Những điều cần biết về 21 điểm đảo Việt Nam đang kiểm soát ở Trường Sa
Theo các thông tin đã được xác nhận, tại khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Hải quân nhân dân Việt Nam đang kiếm soát ít nhất 9 đảo nổi và 12 đảo đá ngầm.
![]()

A. ĐẢO NỔI: có 9 vị trí
1. Đảo Trường Sa
Là một hòn đảo được mệnh danh là “Thủ đô của huyện đảo Trường Sa” nổi lên như một pháo dài sừng sững kiên trung giữa Biển Đông, đảo Trường Sa ở vĩ độ 08038’30’’N và kinh độ 111055’55’’E, nằm ở phía Nam và là đảo lớn của quần đảo Trường Sa, cách Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 254 hải lý. Đảo có hình dáng gần như một tam giác vuông, có cạnh huyền nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam dài 630m, chiều rộng nhất khoảng 300m, diện tích toàn đảo khoảng 0,15km2; mặt đảo bằng phẳng, thổ nhưỡng trên đảo là cát san hô được phủ một lớp mùn mỏng lẫn phân chim của nhiều loài chim sinh sống như hải âu, hải yến, vịt biển. So với mực nước biển lúc thủy triều xuống thấp nhất, mặt đảo cao khoảng 3,4-5m.
Đảo nằm trên nền san hô ngập nước, nền san hô ở phía Đông rộng thoai thoải, phía Tây hẹp, dốc. Trên đảo có nước lợ nằm ở độ sâu khoảng 2m thuận tiện cho tắm, giặt, tưới cây, đây là sự ưu đãi của thiên nhiên cho con người ở đảo. Điều kiện khí hậu, thủy văn ở đảo Trường Sa mang đặc trưng khí hậu, thủy văn của quần đảo Trường Sa, có mùa hè mát mẻ, mùa đông ấm áp. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Những tháng mùa khô khí hậu rất khắc nghiệt, ngày nắng, nóng, oi bức kéo dài từ 4 giờ 30 phút đến 19 giờ hàng ngày, nhưng đây là thời kỳ sóng yên, biển lặng rất thuận lợi cho các đoàn khách từ đất liền ra kiểm tra, nắm tình hình, thăm hỏi, tham quan, động viên bộ đội và nhân dân trên đảo. Đồng thời cũng là mùa đánh bắt hải sản của ngư dân ở các tỉnh ven biển Trung bộ, Nam Trung bộ và Nam bộ, vì thế, tuy có nắng, nóng, chật chội và thiếu nước ngọt nhưng đây là những tháng mà mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ, dân và quân trên đảo trở lên sôi động hơn.
Thủy triều ở khu vực đảo là chế độ nhật triều, một lần nước lên, một lần nước xuống. Ở vĩ độ thấp, gần đường xích đạo, số ngày nắng trên đảo nhiều, trên dưới 300 ngày trong năm. Nằm giữa biển khơi, chịu sự chi phối của 3 khối gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và Tây Bắc thường xuyên thay nhau thịnh hành mang hơi nước từ biển thổi vào, gây hư hại cho các trang thiết bị, vũ khí và sự sinh trưởng của cây cối. Những tháng mùa mưa thời tiết mát mẻ hơn nhưng lại hay có giông gió bất thường ảnh hưởng đến các hoạt động trên đảo.
Thực vật ở đảo chủ yếu là cây phong ba, bàng vuông, xương rồng, phi lao, muống biển và một số loài cỏ lau thân mền, cỏ lá kim nhưng sự phát triển, sinh trưởng kém do sự khắc nghiệt của khí hậu. Xung quanh đảo có nhiều loài ốc, cá, hải sâm. Chim có một số loài, nhiều hơn cả là cò và một số loài chim di cư theo mùa. Khu vực biển quanh đảo có nguồn hải sản phong phú có giá trị kinh tế cao thu hút nhiều tàu đánh bắt cá xa bờ của ngư dân các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên,… Chính điều kiện trên đã làm cho mảnh đất nơi đây in đậm những dấu vết của người Việt xưa. Những phát hiện khảo cổ là căn cứ Lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa là của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày nay.
Đảo Trường Sa (thị trấn Trường Sa) là trung tâm hành chính của huyện đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa; bên cạnh các đơn vị quân đội, trên đảo có các hộ dân, các công trình dân sự, văn hóa tâm linh như: Trạm khí tượng thủy văn nằm trong hệ thống khí tượng thủy văn quốc gia và thế giới, thường xuyên cung cấp tình hình thời tiết, khí hậu, khí tượng ở khu vực Biển Đông, nhà khách Thủ đô, nhà tưởng niệm Bác Hồ, tượng đài liệt sĩ, chùa… Nằm ở trung tâm quần đảo Trường Sa, đảo Trường Sa là nơi thuận tiện cho ngư dân tránh gió. Trên thực tế, nhiều năm qua ngư dân các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam và một số địa phương ven biển Nam bộ mỗi khi xa bờ, ra khơi sản xuất, bất ngờ có bão, giông, đau ốm, bệnh tật phần nhiều đã đến Trường Sa tạm lánh, cấp cứu, điều trị, tiếp nhận nước ngọt, lương thực, thực phẩm và rau xanh. Với vị trí thuận lợi, Trường Sa hoàn toàn có thể trở thành địa chỉ cung ứng dịch vụ nghề cá, cảng biển.
2. Đảo An Bang
Đảo An Bang nằm ở vĩ độ 07053’48’’N và kinh độ 112055’06’’E, cách đảo Trường Sa 75 hải lý về phía Đông Nam, cách đá Thuyền Chài 21 hải lý về phía Tây Nam. Đảo nằm dài theo hướng Bắc – Nam, chiều dài khoảng 220m, chiều rộng phân bố không đều, chỗ rộng nhất khoảng 100m, chỗ hẹp nhất khoảng 15-20m.
Đảo An Bang nằm trên thềm san hô ngập nước. Khi thủy triều xuống thấp nhất, độ cao của đảo khoảng 3m, mép bờ đảo xa thêm khoảng 50m. Đảo do các tảng đá san hô liên kết với nhau tạo nên. Bờ đảo được bao bọc bởi các tảng đá san hô lớn. Bờ Tây là một dải cát hẹp. Bờ Nam bãi cát thường thay đổi theo mùa, từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm được bồi thêm cát thành một bãi cát dài, đến tháng 8 bãi cát này biến mất và dịch sang bờ phía Đông của đảo. Do cấu trúc san hô của đảo dựng đứng nên 4 mùa sóng vỗ, do vậy việc ra vào đảo gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Nhiều chuyến tàu từ đất liền đến thăm cán bộ, chiến sĩ đảo An Bang vào đúng mùa sóng dữ đã không thể vào được đảo. Là đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa, đảo An Bang mang đặc điểm, tính chất khí hậu, thủy văn của quần đảo Trường Sa. Mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Số ngày nắng, nóng, giông tố lớn. Độ mặn trong hơi nước và không khí cao. Đảo không có nước ngọt. Thổ nhưỡng là cát san hô, bề mặt có phủ một lớp mùn mỏng, nghèo chất dinh dưỡng, rất khó cho cây cối phát triển. Mùa hè nắng, nóng, oi bức ảnh hưởng đến chất lượng học tập, huấn luyện, sinh hoạt của bộ đội.
Nằm ở phía Nam của quần đảo Trường Sa, đảo An Bang có vị trí rất quan trọng như cầu nối giữa các đảo thuộc quần đảo Trường Sa với khu vực dầu khí nằm trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, cùng với các đảo trong quần đảo Trường Sa, đảo An Bang tạo thành lá chắn vòng ngoài, ngăn chặn các hoạt động chống phá, tiến công của kẻ thù trên hướng biển; khống chế các máy bay quân sự, các tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền an ninh quốc gia; kết hợp với ngư dân các địa phương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, trận địa chiến tranh nhân dân trên khu vực Nam Trường Sa. Về kinh tế, nằm gần đường hàng hải quốc tế tấp nập vào hàng thứ hai trên thế giới, nếu được đầu tư, đảo An Bang là địa điểm làm dịch vụ hàng hải mang lại lợi nhuận cao. Hiện nay, đèn biển trên đảo đã xây dựng xong từ năm 1996 và đưa vào khai thác góp phần vào nguồn thu ngoại tệ của Nhà nước. Trên các hố của thềm san hô có nhiều loài tôm, cá quý hiếm như cá ngừ, cá mú, tôm hùm, rùa biển rất thuận tiện cho đánh bắt, chế biến, xuất khẩu.
3. Đảo Trường Sa Đông
Đảo Trường Sa Đông nằm ở vĩ độ 08056’06’’N và kinh độ 112020’54’’E cách Cam Ranh, Khánh Hòa khoảng 260 hải lý, cách đảo Đá Tây khoảng 6,0 hải lý về phía Đông Bắc, cách Đá Đông khoảng 13 hải lý về phía Tây Bắc. Chiều dài của đảo khoảng 200m theo hướng Đông Tây; chiều rộng ở nửa phía Đông khoảng 60m, ở nửa phía Tây khoảng 5-15m; diện tích toàn đảo gồm cả bãi cát phía Tây đảo khoảng 0,03km2. Đảo nằm trên bãi san hô ngập nước dài khoảng 1 hải lý. Phía Tây có một bãi cát nhỏ. Khi thủy triều thấp nhất toàn bộ đảo và bãi cát đều khô nước. Thềm san hô xung quanh đảo độ dốc lớn, chỗ nhô ra, chỗ thụt vào. Bề mặt san hô không bằng phẳng, chỗ cao, chỗ thấp, khi nước thủy triều lên cao nhập bãi rất khó xác định độ nông, sâu, gây nguy hiểm cho tàu, xuồng ra vào. Lớp bùn san hô trên đảo mỏng, rất khó cho việc trồng cây xanh. Tương tự như các đảo khác trong quần đảo Trường Sa, thời tiết trên đảo Trường Sa Đông rất khắc nghiệt, nắng, mưa, giông gió thất thường, diện tích đảo lại hẹp nên việc ăn, ở, sinh hoạt của bộ đội khó khăn.
Cùng với các đảo trong quần đảo Trường Sa, đảo Trường Sa Đông có vị trí rất quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, quốc phòng – an ninh. Nằm ở phía Đông Đông Bắc của đảo Trường Sa, từ Trường Sa Đông đến các đảo trong quần đảo Trường Sa không xa, thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi, học tập, xây dựng đảo không ngừng tiến bộ về mọi mặt, bảo vệ đảo trước âm mưu xâm chiếm của kẻ thù và tạo thành lá chắn vững chắc bảo vệ sườn phía Đông của đất nước.
Trong thềm san hô có nhiều loài hải sản quý như tôm hùm, cá ngừ, hải sâm, rùa biển và một số loài ốc có giá trị dinh dưỡng cao. Là một trong các đảo ở trung tâm của quần đảo Trường Sa, hàng năm số lượng tàu thuyền đi qua khu vực đảo Trường Sa Đông rất lớn, trong đó có nhiều tàu trọng tải từ 30.000 tấn trở lên, việc thực hiện các dịch vụ hàng hải sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Do vị trí thuận lợi, hàng năm ngư dân các địa phương ven biển Trung bộ, Nam Trung bộ ra sản xuất, khai thác, đánh bắt hải sản tương đối đông, tạo thành thế trận quốc phòng – an ninh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, tài nguyên môi trường và trật tự an ninh chính trị trong khu vực.
4. Đảo Sinh Tồn Đông
Đảo Sinh Tồn Đông nằm ở khu vực phía Bắc quần đảo Trường Sa, cách đảo Sinh Tồn khoảng 15 hải lý về phía Tây; nằm ở vĩ độ 09054’18’N và kinh độ 114033’42’E. Đảo chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và nằm trên một nền san hô ngập nước. Rìa ngoài của nền san hô ngập nước cách bờ đảo từ 300-600m. Đảo có chiều dài khoảng 160m, chiều rộng khoảng 60m. Xung quanh đảo bờ cát rộng từ 5-10m; phía hai đầu đảo có hai doi cát. Doi cát phía Đông Nam dài hơn doi cát phía Tây Tây Bắc và có kích thước khoảng 140x45m, cả hai doi cát này thường di chuyển theo mùa sóng gió.
Đất trên đảo là cát san hô nên hầu như không trồng được cây ăn quả, rau xanh, chỉ phù hợp với các loại cây nước lợ như mù u, phong ba, phi lao, rau muống biển, cây bàng quả vuông, cây bão táp, cỏ dại, đất qua cải tạo có thể trồng được rau xanh. Đảo không có nước ngọt.
Đảo Sinh Tồn (xã đảo Sinh Tồn) là một trong 3 xã, thị trấn của huyện đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa; bên cạnh các đơn vị quân đội, trên đảo có các hộ dân sinh sống, các công trình dân sự, văn hóa tâm linh như: chùa, trạm khí tượng thủy văn nằm trong hệ thống khí tượng thủy văn quốc gia và thế giới.
5. Đảo Phan Vinh
Đảo Phan Vinh hay còn gọi là đảo Hòn Sập, nằm ở vĩ độ 08058’06’’N và kinh độ 113041’54’’E, nằm cách bãi đá Tốc Tan khoảng 14 hải lý về phía Tây Bắc và cách bãi đá Châu Viên (Trung Quốc chiếm giữ) khoảng 47 hải lý về phía Đông. Đảo nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài 132m, rộng 72m, ở đầu cuối phía Đông Bắc trên một nền san hô hình vành khuyên, dài khoảng 5 hải lý, theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Ở phía Tây của vành san hô này có 1 xác tàu đắm luôn nhô cao trên mặt nước biển.
Đảo không có nước ngọt, có cây xanh, lúc thủy triều xuống thấp nhất, người có thể lội bộ từ đảo đến xác tàu đắm. Ở giữa vành đai san hô là một hồ nước sâu. Rìa ngoài của vành san hô ở hướng Bắc và Đông Bắc đến bờ đảo dài khoảng 200m. Hiện nay ta đã xây dựng trên nền san hô đó 1 nhà lâu bền còn gọi là đảo Phan Vinh B. Tại điểm này có một lạch được dọn sạch đá san hô rất tiện cho việc chèo xuồng ra vào đảo; khi thủy triều xuống còn 0,4-0,5m, người có thể lội qua thềm san hô để vào đảo mà nước cũng chỉ sâu đến đầu gối chân. Tại thềm san hô tận cùng phía Tây của vành san hô hình vành khuyên, cách mép sóng khoảng 200m có 1 bãi san hô, khi thủy triều xuống còn 1,7m thì bãi này bắt đầu nhô lên khỏi mặt nước và khi thủy triều còn khoảng 1,5m thì bãi đá nổi cao thành hình một bãi san hô dài khoảng 50m, rộng từ 5-10m.
6. Đảo Song Tử Tây
Đảo Song Tử Tây nằm ở vĩ độ 11025’54’’N và kinh độ 14019’48’’E, cách đảo Song Tử Đông (do Philippin đang chiếm giữ) 1,5 hải lý. Về phía Nam cách 2,5 hải lý có đảo Đá Nam. Đảo Song Tử Tây có hình bầu dục diện tích khoảng 0,13km2, lòng đảo trũng xung quanh cao so với mực nước biển từ 4-6m đứng từ xa nhìn đảo như một khu rừng thu nhỏ mọc lên giữa đại dương. Màu xanh của cỏ cây hòa quyện với màu xanh của biển tạo nên màu xanh thanh bình, ổn định. Đảo có nhiều nước lợ thuận lợi cho việc tắm giặt và tưới cây, môi trường sinh thái của đảo khá thuận lợi. Hình như biển cả đã bao dung, ưu ái tặng cho con người nơi đây vị ngọt ngào, chân chất của đất liền, để bù lại những con sóng mạnh dội vào không ngớt, cho nên điều kiện trên đảo nuôi được bò, lợn, gà, trồng được nhiều rau xanh các loại tươi tốt bốn mùa. Đặc sản của đảo có cây sâm đất, bộ đội ta vẫn dùng làm nước uống khá ngon.
Đảo Song Tử Tây (xã đảo Song Tử) là một trong 3 xã, thị trấn của huyện đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa; bên cạnh các đơn vị quân đội, trên đảo có các hộ dân sinh sống, các công trình dân sự, văn hóa tâm linh như: chùa, trạm khí tượng thủy văn của Nam Trung bộ, Âu tàu với sức chứa hàng trăm tàu cá công suất lớn, đây là địa chỉ an toàn cho ngư dân đánh bắt cá xa bờ, đảo còn có một trạm dịch vụ sửa chữa, cung cấp dầu diezen, nước ngọt cho tàu cá của ngư dân với giá bán bằng giá trong đất liền.
Đảo Song Tử Tây
7. Đảo Nam Yết
Đảo Nam Yết nằm ở phía Bắc quần đảo Trường Sa, nằm ở vĩ độ 10010’54’’N và kinh độ 114021’36’’E, cách đảo Sơn Ca khoảng 13 hải lý về phía Tây Nam, cách đảo Ba Bình (Đài Loan đang chiếm giữ) khoảng 11 hải lý về phía Nam, cách đá Ga Ven (Trung Quốc đang chiếm giữ) khoảng 7 hải lý về phía Đông, là một trong những đảo có vị trí chiến lược quan trọng trên quần đảo Trường Sa. Đảo Nam Yết có dáng hình bầu dục hơi hẹp bề ngang, nằm theo hướng Đông – Tây, dài khoảng 600m, rộng khoảng 125m, diện tích khoảng 0,6km2. Khi thủy triều thấp nhất đảo cao khoảng từ 3-4m. Đất trên đảo là cát san hô nên hầu như không trồng được các loại cây ăn quả, rau, chỉ phù hợp với các loại cây nước lợ như mù u, bàng quả vuông, phong ba, dừa và các loại cây leo, cỏ dại. Đất qua cải tạo có thể trồng được rau muống, bầu, bí. Đảo không có nước ngọt. Bãi san hô ngập nước bao quanh đảo, lan ra cách bờ từ 300-1.000m. Khi thủy triều thấp nhất, bãi san hô nhô lên khỏi mặt nước từ 0,2-0,4m.
Về thời tiết, mùa mưa liên tục từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau, thời gian kéo dài từ 6 đến 8 tháng, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.848-3.235mm. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 5, thời gian kéo dài 4 tháng (có năm kéo dài 5 tháng). Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đảo Nam Yết từ 250C-290C, cao nhất 350C, thấp nhất từ 140C-210C. Gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10. Gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Từ tháng 7 đến tháng tháng 12 thường hay có bão đổ bộ vào đảo. Khi biển lặng, sóng cao từ 0,2-0,5m. Biển động, sóng cao từ 4-5m. Từ tháng 8 đến tháng 12 là thời kỳ cao điểm mưa to, gió lớn, gây khó khăn cho tàu ta neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo. Độ ẩm trung bình hàng năm trên đảo Nam Yết là 79%; độ ẩm cao nhất là 96%; thấp nhất: 61%. Độ ẩm cao mang theo nhiều hơi sương muối, làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh xuống cấp và lương thực, thực phẩm nhanh hư hỏng.
8. Đảo Sinh Tồn
Đảo Sinh Tồn nằm ở khu vực phía Bắc quần đảo Trường Sa, nằm ở vĩ độ 90053’12’N và kinh độ 114019’42’E cách đảo Sinh Tồn Đông khoảng 15 hải lý về phía Tây. Đảo chạy dài theo hướng Đông – Tây có chiều dài 0,39km, rộng 0,11km và nằm trên một nền san hô ngập nước. Rìa ngoài của nền san hô ngập nước cách bờ đảo từ 300-600m. Xung quanh đảo có bờ cát rộng từ 5-10m; phía hai đầu đảo theo hướng Đông – Tây có hai doi cát. Doi cát phía Đông dài hơn doi cát phía Tây và có kích thước khoảng 140x45m, cả hai doi cát này thường di chuyển theo mùa sóng gió.
Đất trên đảo là cát san hô nên hầu như không trồng được cây ăn quả, rau xanh, chỉ phù hợp với các loại cây nước lợ như mù u, phong ba, phi lao, rau muống biển, cây bàng quả vuông, cây bão táp, cỏ dại, đất qua cải tạo có thể trồng được rau xanh. Đảo không có nước ngọt.
9. Đảo Sơn Ca
Đảo Sơn Ca nằm ở vĩ độ 10022’36’’N và kinh độ 114028’42’’E; cách đảo Ba Bình 6,2 hải lý về phía Đông. Đảo hình bầu dục, hẹp ngang, nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đảo dài khoảng 450m, rộng chừng 102m, khi thủy triều xuống thấp nhất đảo cao từ 3,5-3,8m. Trên đảo có nhiều cây cối xanh tốt, nhiều cây sống lâu năm lá xum xuê, rợp bóng mát rất thích nghi với điều kiện sinh sống của loài chim sơn ca. Do nhu cầu bản năng, chim sơn ca thường đến đây làm tổ, nuôi con và sinh sống nên người ta đặt tên cho đảo là Sơn Ca.
Là đảo nổi, mặt đảo bằng phẳng, thổ nhưỡng trên đảo là cát san hô, được phủ một lớp mùn mỏng lẫn phân chim, không có đất màu nên việc trồng rau xanh khó khăn. Nằm trên nền san hô ngập nước, đảo không có nước ngọt. Địa hình đảo nhô cao ở giữa, thoải dần về thềm san hô bao quanh đảo. Khí hậu, thủy văn ở đảo Sơn Ca mang đặc trưng khí hậu thủy văn của quần đảo Trường Sa, mùa hè mát, mùa đông ấm. Tuy nhiên do ở vĩ độ thấp nên thời tiết buổi trưa hơi oi bức. Mùa khô ở đảo bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Những tháng mùa khô, thời tiết rất khắc nghiệt, ngày nắng, nóng kéo dài từ sáng sớm đến xẩm tối.
Thủy triều ở đảo là chế độ nhật triều, một lần nước lên, một lần nước xuống. Số ngày nắng trên đảo thường dao động trên dưới 300 ngày trong năm. Đảo chịu sự chi phối của 3 khối gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và Tây Nam, mạnh và hoạt động dài ngày là gió mùa Đông Bắc về mùa đông và gió mùa Tây Nam về mùa hè, mang hơi nước từ biển gây hư hại cho vũ khí, trang thiết bị và sinh trưởng của cây cối. Những tháng mùa mưa thời tiết mát mẻ hơn, nhưng hay có giông gió bão ảnh hưởng đến các hoạt động trên đảo. Thực vật ở đảo khá phong phú, đa dạng về chủng loại, song nhiều hơn cả là cây bàng quả vuông, sồi, phi lao, muống biển và một số loài cỏ thân mềm có nguồn gốc tự nhiên và do cán bộ, chiến sĩ mang từ đất liền ra đảo, lâu ngày phù hợp với điều kiện thời tiết, thiên nhiên của đảo nên phát triển tốt, xanh mát quanh năm. Có thể nói, cùng với Song Tử Tây, Sơn Ca là một trong hai đảo có thảm thực vật phong phú xanh tốt. Xung quanh đảo, biển có nhiều loài ốc, cá, hải sâm. Chim có một số loài, nhiều hơn cả là chim sơn ca và một số loài chim di cư theo mùa.
Cùng với các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, đảo Sơn Ca là lá chắn vòng ngoài bảo vệ sườn phía Đông của các tỉnh Nam Trung bộ. Nằm trong cụm Nam Yết, đảo Sơn Ca phối hợp với các đảo trong cụm và trong quần đảo tạo thành thế trận liên hoàn, bảo vệ cho mình và các đảo khác chống lại sự xâm chiếm, đóng xen kẽ của lực lượng nước ngoài. Xung quanh đảo Sơn Ca, phía sát ngoài rìa của thềm san hô có nhiều loài cá quý như chim, thu, ngừ, mú và một số loài hải sản có giá trị dinh dưỡng cao. Mùa sóng yên biển lặng, tàu thuyền tập thể, cá nhân các địa phương ven biển Việt Nam và các nước trong khu vực đến đánh bắt, khai thác, chế biến hải sản tương đối đông đúc. Một số loài cá xuất khẩu mang lại lợi nhuận kinh tế cao như cá ngừ đại dương, cá mú đã cho thấy giá trị kinh tế của khu vực đảo.
B. Đảo đá ngầm: Có 12 vị trí
1. Đảo Đá Nam
Đảo Đá Nam nằm ở phía Bắc quần đảo Trường Sa, vĩ độ 11023’18’’N và kinh độ 114017’54’’E, cách đảo Song Tử Tây khoảng 3,5 hải lý về phía Tây Nam, là một trong những đảo có vị trí quan trọng trên quần đảo. Đá Nam nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài khoảng 2,3km, rộng khoảng 1,5km. Khi thủy triều thấp có nhiều đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước. Độ cao trung bình khoảng 0,3m. Phía Đông Nam của bãi cạn có một hồ nhỏ dài khoảng 600m rộng 150m, khi thủy triều thấp nhất độ sâu của hồ từ 3-15m.
Về thời tiết ở đây cơ bản chỉ có hai mùa; mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 250C-290C, thấp nhất 140C, cao nhất 350C. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 97%, thấp nhất là 60%. Độ ẩm mang theo nhiều hơi sương muối làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh chóng xuống cấp và lương thực thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng. Mỗi năm ở đây có tới hơn 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên. Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10. Tháng 4 là tháng ít có gió mạnh nhất, đây là thời điểm chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam. Từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm thường có bão đi qua khu vực đảo, biển động, sóng cao từ 4m-5m, có những tháng cao điểm mưa to, gió lớn gây khó khăn cho tàu ra neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo.
2. Đảo Đá Lớn
Đảo Đá Lớn thuộc bãi đá ngầm của nền san hô ngập nước, nằm ở vĩ độ 10003’42’’N và kinh độ 113051’06’’E. Cách đảo Nam Yết khoảng 28 hải lý về phía Tây – Tây Nam. Khí hậu thủy văn ở Đảo Đá Lớn mang đặc trưng khí hậu thủy văn của đảo Trường Sa, mùa hè mát, mùa đông ấm. Tuy nhiên do vĩ độ thấp nên buổi trưa hơi oi bức. Mùa khô ở đảo bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Những tháng mùa khô thời tiết rất khắc nghiệt, ngày nắng nóng kéo dài từ sáng sớm đến tối xẩm. Tuy nhiên đây lại là thời kỳ sóng yên, biển lặng rất thuận tiện cho tàu thuyền đi lại, làm ăn trong khu vực.
Chế độ thủy triều của đảo là nhật triều, một lần nước lên, một lần nước xuống. Số ngày nắng trên đảo thường dao động trên dưới 300 ngày trong năm. Đảo chịu sự chi phối của 3 khối gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và Tây Nam. Mùa gió mạnh và hoạt động dài ngày là gió mùa Đông Bắc về mùa Đông và gió mùa Tây Nam về mùa hè, mang hơi nước mặn từ biển gây hư hại cho vũ khí, trang bị và ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ chiến sĩ trên đảo. Mùa mưa thời tiết mát mẻ hơn, nhưng hay có giông tố, bão, áp thấp. Cùng với các đảo trên quần đảo Trường Sa, Đá Lớn là lá chắn vòng ngoài bảo vệ sườn phía Đông của các tỉnh Nam Trung bộ. Nằm trong cụm đảo Nam Yết, Đá Lớn có thể phối hợp với các đảo trong cụm và trong quần đảo tạo thành thế trận liên hoàn, bảo vệ cho mình và cho các đảo khác chống lại sự xâm chiếm và lấn chiếm của các lực lượng nước ngoài.
Để giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, từ năm 1988 đến năm 1994, được sự chỉ đạo và đầu tư của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, Công binh Hải quân đã xây dựng 3 nhà lâu bền, mở một luồng vào lòng hồ. Tùy thuộc vào sóng gió mà tàu ra đảo có thể vào neo đậu ở gần các nhà lâu bền để làm công tác chuyển tải. Xung quanh Đá Lớn, sát ngoài rìa của thềm san hô có nhiều loài cá quý hiếm như: cá chim, cá thu, cá ngừ và một số loài hải sản có giá trị dinh dưỡng cao. Mùa sóng yên biển lặng, tàu thuyền của các địa phương ven biển Việt Nam và các nước trong khu vực đến đánh bắt, khai thác, chế biến hải sản tương đối đông đúc. Từ vị trí địa lý và giá trị kinh tế của đảo Đá Lớn nói riêng cũng như khu vực quần đảo Trường Sa nói chung, càng khẳng định việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và thềm lục địa có một ý nghĩa chiến lược rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
3. Đảo Đá Thuyền Chài
Đảo Đá Thuyền Chài nằm ở vĩ độ 08011’00’’N và kinh độ 113018’36’’E cách đảo Trường Sa khoảng 87 hải lý về Đông Nam và cách đảo An Bang khoảng 20 hải lý về phía Đông Bắc. Đảo chạy theo hướng Đông – Tây Nam, dài khoảng 17 hải lý, rộng khoảng 3 hải lý. Xung quanh đảo có thềm san hô chiều rộng khoảng 200-350m, hai đầu thu nhỏ, giữa phình to, từ xa trông đảo có hình dáng một cái thuyền đánh cá của ngư dân, nên từ lâu người ta đặt tên cho đảo là đảo Thuyền Chài.
Phần phía Đông Bắc đảo có độ cao lớn hơn phần phía Đông Nam. Dọc theo suốt hai phần ba chiều dài của đảo, tính từ Tây Nam lên Đông Bắc, lác đác có những khối đá mồ côi cao trên mặt nước từ 0,2-0,4m (khi thủy triều xuống còn 0,5m). Dọc theo một phần ba đảo còn lại, đá mồ côi trồi lên mặt nước, dày hơn và cao hơn. Giữa đảo Thuyền Chài có một hồ nước sâu, khi thủy triều xuống thấp nhất vẫn bị ngập nước. Hồ có chiều dài khoảng 11km, chiều rộng trung bình 2km. Trong hồ có 3 bãi cát nhỏ nhô lên khi thủy triều xuống còn khoảng 0,5m và khi nước lớn, cả 3 bãi này đều bị ngập sâu 1m.
Ở bờ phía Đông của hồ, phía Nam đảo Thuyền Chài, Công binh Hải quân Việt Nam đã đào một luồng (năm 1987) cho tàu đi vào trong hồ. Luồng dài khoảng 300m, rộng 20m; khi thủy triều ở đảo Trường Sa cao 2m, độ sâu của luồng ở phía cửa và trong hồ 1,8m. Thềm san hô – tính từ phía Đông Bắc của hồ lên phía Bắc chạy dài theo hướng Bắc Nam, dài khoảng 13km, rộng 3km. Trên nền san hô này có những mô đá. Tháng 3 năm 1987, Công binh Hải quân đã xây dựng hai nhà lâu bền trên đảo Thuyền Chài (một nhà ở đầu Bắc, một nhà ở đầu Nam của đảo và 4 nhà cao chân (một nhà ở đầu Bắc, một nhà ở đầu Nam và hai nhà ở khoảng giữa bờ Tây của đảo).
4. Đảo Đá Cô Lin
Đảo Đá Cô Lin nằm ở vĩ độ 09046’24’’N và kinh độ 114015’12’’E, nằm cách đảo Sinh Tồn khoảng 9 hải lý về phía Tây Nam, cách bãi đá Gạc Ma (Trung Quốc chiếm giữ) khoảng 1,9 hải lý về phía Tây Bắc và cách bãi đá Len Đao khoảng 6,8 hải lý về phía Tây – Tây Nam. Đá Cô Lin có dạng một hình tam giác nhưng cạnh hơi cong, mỗi cạnh dài khoảng 1 hải lý. Khi thủy triều lên, đảo bị ngập chìm trong nước. Khi thủy triều xuống thấp, cả đảo chỉ lộ ra một vài hòn đá mồ côi.
Điều kiện khí hậu, thủy văn ở đá Cô Lin mang đặc trưng khí hậu, thủy văn của quần đảo Trường Sa, có mùa hè mát mẻ, mùa đông ấm áp. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Nhưng tháng mùa khô khí hậu rất khắc nghiệt, ngày nắng, nóng, oi bức kéo dài từ 4 giờ 30 phút đến 19 giờ hàng ngày. Tuy nhiên đây là thời kỳ sóng yên, biển lặng rất thuận lợi cho các đoàn khách từ đất liền ra kiểm tra nắm tình hình, tham quan, động viên bộ đội trên đảo. Đồng thời cũng là mùa đánh bắt hải sản của ngư dân các tỉnh ven biển Trung bộ, Nam Trung bộ và Nam bộ. Ở vĩ độ thấp, gần đường xích đạo, số ngày nắng trên đảo chịu sự chi phối của 3 khối gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và Tây Bắc thường xuyên thay nhau thịnh hành mang hơi nước từ biển thổi vào, gây hư hại cho các trang thiết bị, vũ khí. Những tháng mùa mưa thời tiết mát mẻ hơn nhưng lại hay có giông gió bất thường, ảnh hưởng đến các hoạt động trên đảo.
Ở đá Cô Lin và khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều loài chim sinh sống, đặc biệt là cò và một số loài chim di cư theo mùa. Xung quanh đảo, phía sát ngoài rìa của thềm san hô có nhiều loài cá quý như chim, thu, ngừ và một số loài hải sâm có giá trị dinh dưỡng cao. Mùa biển lặng, tàu thuyền tập thể, cá nhân của các cơ sở đánh bắt xa bờ, tàu của các nước trong khu vực đến đánh bắt hải sản tương đối đông đúc.
Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc, lực lượng Hải quân đã xây dựng ở đây một nhà lâu bền và một nhà cao chân; hai nhà này cách nhau khoảng 100m. Với vị trí tiền tiêu, đá Cô Lin cùng phối hợp với các đảo khác của quần đảo Trường Sa tạo thành thế trận liên hoàn, vững chắc; là lá chắn vòng ngoài bảo vệ biển, đảo; bảo vệ hướng phía Đông của các tỉnh Nam Trung bộ, Nam bộ.
5. Đảo Đá Len Đao
Đảo Đá Len Đao cùng với 2 hòn đá Cô Lin, Gạc Ma (Trung Quốc chiếm giữ) nổi lên như 3 cạnh của 1 hình tam giác. Đảo nằm ở vĩ độ 09046’48’’N và kinh độ 114022’12’’E. Cách đảo Sinh Tồn về phía Đông Nam 6,5 hải lý, cách đá Cô Lin về phía Đông 6,4 hải lý, cách đá Gạc Ma (Trung Quốc chiếm giữ) về phía Đông Bắc là 5,5 hải lý. Bề mặt Đá Len Đao tương đối bằng phẳng, khi nước thủy triều xuống thấp bãi san hô nổi lên khoảng 0,5m, khi nước thủy triều lên cao bãi ngập khoảng 1,8m. Bãi cát san hô trên đảo lấy tâm là nhà lâu bền cứ xoay một vòng là hết một năm, vào tháng 3, tháng 4 có gió mùa Đông Bắc bãi cát dịch chuyển về phía Tây Nam của đảo, khi nước triều lên có thời điểm bãi cát tạo thành hình bản đồ Việt Nam, đã có rất nhiều nhà báo đến thăm đảo chụp được hình ảnh có một không hai này.
Sự kiện ngày 14-3-1988 còn mãi in đậm trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam khi “nước ngoài” xâm lược. Sỹ quan trẻ thiếu úy Trần Văn Phương được lệnh chỉ huy bộ đội chốt giữ đá Gạc Ma đã bình tĩnh, thực hiện đúng đối sách, cùng lực lượng đóng giữ đảo đã khôn khéo, dũng cảm, kiên quyết chống lại, ôm chặt lá quốc kỳ, biểu tượng chủ quyền của Tổ quốc trên đảo. Trong cuộc chiến đấu một mất, một còn không cân sức đó, “nước ngoài” đã nổ súng vào đồng chí Trần Văn Phương, anh đã anh dũng hy sinh, máu thịt của anh đã quyện chặt với mảnh đất tiền tiêu của Tổ quốc.
Trong sự kiện này, 74 cán bộ, chiến sĩ cùng 3 tàu đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng của biển cả. Và cũng tại nơi đây, nơi các anh đã anh dũng ngã xuống khi tuổi đời còn tươi đẹp nhất và từ đó cho đến ngày nay cứ vào dịp 14-3 hàng năm, những người lính đảo lại thắp hương để tưởng nhớ tới các anh. Các con tàu đưa các đoàn đại biểu đến thăm, kiểm tra đá Len Đao thường dừng lại, thả những vòng hoa xuống vùng biển và giành thời gian mặc niệm tưởng nhớ đến các đồng chí đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ quần đảo Trường Sa của Tổ quốc.
6. Đảo Đá Tiên Nữ
Đảo Đá Tiên Nữ nằm ở vĩ độ 08051’18’’N và kinh độ 114039’18’’E, cách Cam Ranh 374 hải lý, cách đá Tốc Tan 35 hải lý về phía Đông. Chiều dài nhất khoảng 6,5km, chiều rộng nhất khoảng 2,8km. Đảo là một vành đai san hô khép kín; gắn với câu chuyện huyền thoại về một người con gái xuất hiện giữa biển khơi, mang đến bình yên cho vùng này.
Khi thủy triều xuống còn khoảng 0,7m, có những gò san hô nổi lên, nhiều và cao nhất là rìa Bắc và rìa Đông của đảo. Ở rìa Đông có hai hòn đá mồ côi luôn cao hơn mặt nước biển. Khi thủy triều xuống còn 0,1m, toàn bộ vành ngoài mép san hô đều nổi cao lên, có thể đi bộ quanh đảo. Thềm san hô quanh đảo có chiều rộng từ 300-500m. Phía trong vành đai san hô là hồ. Chiều dài hồ khoảng 7,5km, chiều rộng khoảng 3,4km. Điều kiện thời tiết, thủy văn của đảo Tiên Nữ mang đặc điểm kiểu thời tiết, thủy văn của quần đảo Trường Sa, mát về mùa hè, ấm về mùa đông; có hai mùa mưa và khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Đây là thời kỳ sóng biển tương đối êm ả, ít giông bão và không có thời tiết bất thường xảy ra. Chế độ thủy triều của đảo là nhật triều, một lần nước lên, một lần nước xuống. Lượng mưa phân bố không đều, về mùa khô cả tháng không có giọt nước mưa, về mùa mưa có ngày lượng mưa lên tới 300mm.
Đảo Đá Tiên Nữ có vị trí rất quan trọng. Nằm trong khu vực III của quần đảo Trường Sa. Từ đảo Tiên Nữ đến các đảo Tốc Tan, Núi Le, Phan Vinh và một số đảo ở phía Nam của quần đảo Trường Sa khoảng cách không xa, thuận tiện cho việc trao đổi thông tin, gặp gỡ, tiếp xúc giữa các đảo và là địa chỉ tin cậy của ngư dân các địa phương ra sản xuất trong khu vực này. Là đảo nằm ngoài cùng của sườn phía Đông quần đảo Trường Sa, như một vị trí tiền tiêu của quần đảo, dễ phát hiện mục tiêu từ xa tới và cùng với các đảo trong quần đảo tạo thành lá chắn ngoài cùng đầu tiên bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Xung quanh đảo có nhiều loài cá tôm cá quý hiếm như cá ngừ, cá mú, cá tráp, tôm hùm, rùa biển dễ đánh bắt, khai thác, chế biến phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Hiện trên đảo đã có nhà lâu bền, vừa là nơi học tập, sinh hoạt, công tác, ăn, ở, nghỉ ngơi, vừa là công trình chiến đấu phòng thủ đảo. Trong lòng hồ có phao buộc tàu, luồng ra vào có tiêu chỉ dẫn, thuận tiện cho tàu thuyền.
7. Đảo Đá Núi Le
Đá Núi Le là bãi cát san hô ngầm, nằm ở vĩ độ 08042’36’’N và kinh độ 114011’06’’E, cách Cam Ranh hơn 300 hải lý, cách đảo Tốc Tan 6,0 hải lý về phía Đông. Đảo trải dài theo hướng Bắc – Nam, chiều dài khoảng 10km, rộng khoảng 5km. Đảo có thềm san hô xung quanh tương đối khép kín, bên trong là hồ, chiều dài 11 hải lý, chiều rộng 2,3 hải lý. Khi thủy triều xuống thấp nhất, rải rác có những điểm nhô lên khỏi mặt nước.
Thời tiết khí hậu, thủy văn của đảo Núi Le phản ánh đặc trưng thời tiết, khí hậu, thủy văn của quần đảo Trường Sa, mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Nắng, nóng, giông gió thất thường. Lượng mưa phân bổ không đều, mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4 không có mưa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 ngày nào cũng có mưa, có ngày lượng mưa hơn 200mm. Thủy triều của đảo là chế độ nhật triều, một lần nước lên, một lần nước xuống.
Đảo có vị trí rất quan trọng, nằm ở vị trí trung tâm của khu vực III thuộc quần đảo Trường Sa, gần các đảo Tốc Tan, Tiên Nữ, Phan Vinh, tạo thành lá chắn vòng ngoài, phía Đông của quần đảo Trường Sa bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Là địa chỉ tin cậy của ngư dân các địa phương mỗi khi ra đánh bắt hải sản ở khu vực này. Trong khu vực đảo có nhiều loài tôm cá quý như cá ngừ, cá mú, tôm hùm, rùa biển đang được khai thác phục vụ cho nhu cầu đời sống của nhân dân và xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao.
8. Đảo Đá Tốc Tan
Đảo Đá Tốc Tan nằm ở vĩ độ 08048’42’’N và kinh độ 113059’00’’E, cách bãi đá Đông khoảng 78 hải lý về phía Đông. Khi thủy triều xuống một số đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước. Những ngày biển động, có thể phát hiện cụm bãi đá này từ xa nhờ sóng biển đập vào bờ san hô tung bọt trắng xóa. Cụm bãi đá Tốc Tan có chiều dài khoảng 20km, rộng khoảng 7km, diện tích trung bình 75km2. Thềm san hô phía Bắc rộng hơn phía Nam và tạo thành vành đai liền, còn thềm san hô phía Nam thường bị đứt quãng bởi các luồng vào hẹp và nông.
Độ sâu trung bình trong hồ của cụm bãi đá này tương đối lớn, giới hạn trong khoảng 15-25m. Trong hồ có nhiều đá mồ côi lập lờ dưới mặt nước có 3 phao buộc tàu, đường kính 2m, các phao được cố định với đáy bằng rùa bê tông, mỗi rùa nặng khoảng 3 tấn. Công binh Hải quân Việt Nam đã xây dựng trên thềm san hô của cụm bãi đá phía Tây 3 nhà lâu bền: Một nhà ở thềm san hô phía Tây Bắc (nhà B); một nhà ở thềm san hô phía Bắc (nhà C); một nhà ở thềm san hô phía Đông Nam (nhà A).
9. Đảo Đá Đông
Đảo Đá Đông nằm ở vĩ độ 08049’42’’N và kinh độ 112035’48’’E, cách đảo Đá Tây khoảng 19 hải lý về phía Đông, cách đảo Châu Viên (Trung Quốc chiếm giữ) 10 hải lý về phía Tây. Đảo nằm theo hướng Đông Tây, chiều dài của đảo khoảng 14km, chỗ rộng nhất của đảo khoảng 3,8km. Diện tích đảo Đá Đông khoảng 36,4km2. Cấu trúc vành đai san hô phía Bắc cao hơn so với vành đai san hô phía Nam. Khi thủy triều Trường Sa xuống 0,4m thì vành đai san hô phía Bắc đã nhô lên khỏi mặt nước, vành đai san hô phía Nam thấp hơn, nên khi thủy triều xuống còn 0,2m thì vành đai san hô mới nhô lên khỏi mặt nước.
Đảo Đá Đông thuộc cụm Trường Sa trong quần đảo Trường Sa. Khí hậu thủy văn của đảo Đá Đông mang đặc trưng khí hậu thủy văn của quần đảo Trường Sa, mùa hè mát, mùa đông ấm hơn trong đất liền. Tuy nhiên do ở vĩ độ thấp nên thời tiết buổi trưa hơi oi bức. Mùa khô ở đảo bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Những tháng mùa khô thời tiết rất khắc nghiệt, ngày nắng kéo dài từ sáng sớm đến tối xẩm. Tuy nhiên đây là thời kỳ sóng yên, biển lặng rất thuận tiện cho tàu thuyền đi lại, làm ăn trong khu vực, nhất là các đoàn khách từ đất liền ra không mấy khi gặp sóng to, gió lớn. Thủy triều trên đảo là chế độ nhật triều, một lần nước lên, một lần nước xuống. Số ngày nắng trên đảo thường dao động trên dưới 300 ngày trong năm. Đảo chịu sự chi phối của 3 khối gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và Tây Nam, mạnh và hoạt động dài ngày là gió mùa Đông Bắc về mùa đông và gió mùa Tây Nam về mùa hè, mang hơi nước từ biển vào nên gây hư hại cho vũ khí trang bị và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của bộ đội trên đảo. Những tháng mùa mưa thời tiết mát mẻ hơn nhưng hay có giông bão, ảnh hưởng tới hoạt động ở trên đảo.
Cùng với các đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa, đảo Đá Đông là lá chắn vòng ngoài bảo vệ sườn phía Đông của các tỉnh Nam Trung bộ. Nằm trong cụm Trường Sa, đảo Đá Đông có thể phối hợp với các đảo trong cụm và trong quần đảo tạo thành thế trận liên hoàn, bảo vệ cho mình và các đảo khác chống lại sự xâm chiếm của các lực lượng nước ngoài. Xung quanh đảo Đá Đông, phía ngoài của thềm san hô có nhiều loài cá quý như chim, thu, ngừ, mú và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao. Mùa sóng yên, biển lặng, các loại tàu thuyền của ngư dân các địa phương ven biển Việt Nam và các nước trong khu vực đến đánh bắt, khai thác, chế biến hải sản tương đối đông đúc. Do đặc điểm là đảo đá ngầm, cho nên để bảo đảm cho lực lượng hải quân ăn ở, sinh hoạt và thực hiện nhiệm vụ, công binh Hải quân đã xây dựng trên bãi san hô Đá Đông 3 nhà lâu bền. Một nhà ở thềm san hô phía Tây; một nhà ở thềm san hô phía Bắc và một nhà ở thềm san hô phía Đông.
10. Đảo Đá Tây
Đảo Đá Tây nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa, vĩ độ 0805’30’’N và kinh độ 112013’06’’E, cách đảo Trường Sa khoảng 20 hải lý về phía Đông Bắc, là một trong những đảo có vị trí quan trọng trên quần đảo. Đảo Đá Tây có dạng hình quả trám, nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, ở giữa là một cái hồ, có độ sâu không đều. Chiều dài đảo có thể phân ra thành 4 đảo nhỏ riêng biệt được ngăn cách bằng các luồng. Ở bãi san hô phía Đông có một doi cát nổi lên, chỗ cao nhất khoảng 0,7m.
Về thời tiết ở đây cơ bản chỉ có hai mùa: Mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26-300C, thấp nhất 150C, cao nhất có khi lên đến 360C. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76-80%, cao nhất là 97%, thấp nhất là 60%. Độ ẩm mang theo nhiều hơi sương muối làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh chóng xuống cấp và lương thực thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng.
Mỗi năm ở đây có tới hơn 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên. Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10. Tháng 4 là tháng ít có gió mạnh nhất, đây là thời điểm chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam. Từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm thường có bão đi qua khu vực đảo, có những tháng cao điểm mưa to, gió lớn gây khó khăn cho tàu ra neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo.
11. Đảo Đá Lát
Đảo Đá Lát nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa, tọa độ 08040’42’’N và 111040’12’’E, cách đảo Trường Sa khoảng 14 hải lý về phía Tây. Đảo Đá Lát nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài khoảng 5,9km, rộng khoảng 1,6km, diện tích khoảng 9,9km2. Đá Lát là đảo san hô khép kín, phía trong là hồ nước, khi thủy triều lớn toàn đảo bị ngập nước, thủy triều xuống thấp các bãi san hô và đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước.Về thời tiết ở đây cơ bản chỉ có hai mùa: Mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26-300C, thấp nhất 150C, cao nhất có khi lên đến 360C. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76-80%, cao nhất là 97%, thấp nhất là 60%. Độ ẩm mang theo nhiều hơi sương muối làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh chóng xuống cấp và lương thực thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng. Mỗi năm ở đây có tới hơn 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên. Gió Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10. Tháng 4 là tháng ít có gió mạnh nhất, đây là thời điểm chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam. Từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm thường có bão đi qua khu vực đảo, có những tháng cao điểm mưa to, gió lớn gây khó khăn cho tàu ra neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo.
12. Đảo Đá Thị
Đảo Đá Thị nằm ở phía Bắc quần đảo Trường Sa, vĩ độ 10024’42’’N và kinh độ 114022’12’’E, cách đảo Sơn Ca khoảng 6 hải lý về phía Đông – Đông Bắc, là một trong những đảo có vị trí quan trọng trên quần đảo. Đảo Đá Thị có hình hơi tròn và dẹt về hai đầu, nằm theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, là đảo đá ngầm dài 1,5-2km, rộng khoảng 1-1,3km. Đảo có độ dốc về hướng Đông Nam, độ sâu của đảo không đều, khi nước thủy triều cao khoảng 1,2m thì toàn bộ đảo nằm dưới mặt nước khoảng 0,6m. Khi mặt đảo nhô lên khỏi mặt nước 0,3m thì ở giữa đảo vẫn còn chỗ có nước. Về thời tiết ở đây cơ bản có hai mùa: Mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25-290C, thấp nhất 140C, cao nhất 350C.Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76-80%, cao nhất là 97%, thấp nhất là 60%. Độ ẩm mang theo nhiều hơi sương muối làm cho trang bị vũ khí, khí tài nhanh chóng xuống cấp và lương thực thực phẩm nhanh chóng bị hư hỏng. Mỗi năm ở đấy có tới hơn 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên. Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10. Tháng 4 là tháng ít có gió mạnh nhất, đây là thời điểm chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam. Từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm thường có bão đi qua khu vực đảo, biển động, sóng cao từ 4-5m, có những tháng cao điểm mưa to, gió lớn gây khó khăn cho tàu ra neo đậu làm nhiệm vụ tại đảo.
Theo VNSEA.NET
Trích bài Cô Tô trong tập Ký Nguyễn Tuân (NXB Văn Học, VN, 1986)
Mũi Ngọc. Trên chỏm nó là một cái đồn. Dưới chân nó là một tí phố cụt của cây số cuối cùng thuộc đường số 4. Mười căn nhà ngói, mái thâm giòn, hòn ngói đực xoắn xuýt lấy hòn ngói cái. Chỉ có cái trạm hàng giang là còn cái màu ngói của một trụ sở mới. Nước thủy triều vẫn rút xuống. Tìm cái tàu thủy đón đoàn ra Cô Tô thì chưa thấy nó đâu cả. Cát ở đây vàng rộm hoàn toàn khác hẳn cát bãi Trà Cổ xam xám sền sệt.
Biển càng hướng ra Cô Tô, càng thấy nồng. Vĩnh Thực, Cái Chiên, Núi Miều, Núi Tụi, vùn vụt lướt qua sườn tàu, mà trên boong tàu, mớ tóc trần trên đầu chị bạn vẫn không chịu rung lấy nửa sợi. Đứng gió quá. Chân đảo Thoi Xanh xa xa cát vàng như một nét chỉ mành tơ lưới kéo ngang nền giời hâm hấp của biển chờ cơn dông. Nước đùng đục. Mặt biển lặng lờ và láng mềm đi như dầu mỡ nào đang chảy tràn tới tận cái cuống mây chân giời. Nó gợi gợi một cái chảo khổng lồ nước xuýt vịt béo sôi giấu khói, mới trông qua rất dễ lầm với một nồi canh nguội. Có tí sóng nào dội lên phía chân vịt tàu, thì sóng chỉ xông thêm ong ong oi oi lên mặt tàu. Bầu trời tắt gió càng về quá trưa càng đặc sánh. Thấy nghẹn thở. Trời vàng vàng cái mặt màu da đồng.
Tối đầu trên đảo Cô Tô, đã có ngay một buổi họp, – họp chạy bão, rất có thể ngày mai bão đã vào thấu tới quần đảo rồi (…) Nửa đêm, gió ở đâu đùng đùng kéo tới (…) thổi bay cả gối cả chăn, xô băng đi cả chén cả ấm để ở ngoài hiên gác đảo ủy (…) Một anh trong đoàn, như mắng gió, bằng một giọng ngái ngủ: “Tiền trạm xích hầu của của trận bão số 6 ngày mai đó phải không?” Đùng đùng, hồi lùng, mạnh hơn gió quẩn vùng núi Tây Bắc rung cột nhà sàn theo lối vòi voi lắc gốc chuối rừng. Nó làm một chập dài (…)
Buổi sớm dậy, xem qua loa bản đồ 18 hòn lớn nhỏ của quần đảo Cô Tô, rồi vội đi theo luôn anh Quốc Sĩ dẫn đường về hợp tác xã đánh ngọc trai Tô Bắc. Trời vẫn còn nắng, nhưng không có tia nắng, và nó ấp úng như cái cười nham hiểm của một anh giáo giở sắp táng tận lương tâm. Cung cách này, phải nói với xã viên Tô Bắc tranh thủ ngay chiều nay cho ra đánh ngay một chuyến trân châu gần bờ (…)
Cái thuyền ba góc đặc biệt của Cô Tô lừ lừ nhả bờ, Quốc Sĩ và Thái Mao Hữu cùng chèo chung một cuống chèo. Chèo lối này là lối chèo lụ, chèo cứ xoáy cứ khoan vào nước mà trườn cái thuyền đít bè đi tới, mũi chèo lúc nào cũng ngập sâu xuống dưới mặt sóng. Thuyền đánh ngọc trai xoay lưng vào đảo Cô Tô mẹ và hướng thẳng sang đảo Cô Tô con. Cả Thái Mao Hữu cả Quốc Sĩ đều buông chèo, cởi quần áo, đeo kính lặn, và nhảy ùm xuống biển. Thoáng một cái, họ đã ngoi lên, một tay bám mạn thuyền, một tay bỏ vào lòng thuyền hàng nạm con trai, hàng chùm trai ngào ngạt mùi bùn cát đáy biển. Tôi ngắm những chùm trai tươi, tôi ngắm biển, ngắm trời, ngắm cái bờ cát đảo Cô Tô mẹ đã mờ và cái bờ cát đảo Cô Tô con rõ nét nhà và nét cây xóm chài. Chân trời đàng Đông, mây xám buông thõng xuống sóng như một thần nữ nào đang bực mình quạt phành phạch hong tóc trên thau nước gội bồ kếp đục ngầu. Thấy người se se lạnh cái mùi gió của thứ gió dẫn mưa đang thổi tới.
– Thôi, ta quay vào bờ thì vừa đấy! (…)
Mấy chục con trai còn non chưa con nào đậu ngọc. Nhưng tôi vẫn vui như chính mình vừa tìm được ngọc bể. Trong mắt tôi vẫn chưa biến hết cái lung linh ban nãy của những người thanh niên lặn tìm trân châu giữa biển (sắp) bão. Con trân châu tươi vừa bổ đôi ra, hai mảnh vỏ óng lên cái hào quang của một thứ pha-lê nạm sà cừ. Buổi chiều vàng đùng đục trên hòn đảo, cũng như biển bão đang đục ngầu quanh trụ sở hợp tác xã Tô Bắc. Nhưng vỏ trai ngọc vẫn tươi ánh thanh khiết, kết tinh lại tất cả những buổi tốt trời trên mặt biển vịnh Bắc bộ. Màu sắc mát nhẹ của lòng vỏ trân châu đang từ chối mọi cái mờ ám càng giờ càng tăng của bầu trời bão quanh mình. Vỏ trân châu xanh hồng huyền ảo, càng nhìn càng ưa, và thấy như lộng lên cái thảm kịch của sinh vật nằm dưới rốn bể mà vẫn không chịu nguôi lòng tương tư cái nguồn sáng cội gốc đang bị trần sóng trên đỉnh đầu bẻ gẫy hết tia chói. Màu vẻ lòng trai ngọc thật là kiều diễm như nửa vòng cung cầu vồng bắc lên từ một thế giới đáy biển vẫn hoài bão ánh trời (…)
Đêm thứ hai ở Cô Tô, vẫn có những ngôi sao sáng thoi thóp giữa trời đục. Sao của đêm bão không tia nhấp nháy. Trời cao lại thẳm như đáy biển mình vừa tuột tay đánh rớt ngọc mình vào, và mình cũng đang lao theo.
Bữa cơm sáng nay chia tay với anh em xã viên hợp tác xã trân châu (…) Thế nào chiều nay cũng phải về tới đảo ủy (…) Gió vẫn thổi thốc vào nách vào gáy bọn tôi đang leo đèo Đầu Chó. Gió lật ngửa lá sim, lá mua, lá cỏ dàng dàng, và mỗi cái giật của đợt gió, cổ mình như sái hẳn đi, như cổ ngựa bị gió giật cương để chân mình khỏi sa thụt xuống ổ gà rừng. Đến đỉnh dốc Đầu Chó, gió càng giật dữ. Thế này thì ít nhất cũng là gió cấp 8. Mặc kệ cấp 8, phải dừng lại, nhìn biển cái đã. Đây là mỏm của mũi đảo ăn thẳng hướng bắc. Thấy được cả bãi biển phía đông, thấy được cả bãi biển của phía tây đảo (…) Cả hai mặt biển sóng đều không thấy một bóng buồm nào. Nước biển chỗ vòng cung phía đông thì ngầu đục vàng ệnh, nước biển vòng cung mặt tây kia thì xanh màu cánh trả. Nhiều mảng biển phía tây, đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống, thấy chồm chồm màu sà cừ uyển chuyển của mấy mảnh vỏ trân châu bỏ kỹ trong đáy túi dết của mỗi người.
Hình như gió bão chờ chúng tôi lọt hết vào trận địa cánh cung bãi cát, rồi mới tăng thêm hỏa lực. Mỗi viên cát bắn vào má vào gáy lúc này buốt như một viên đạn mũi kim. Gió bắn rát từng chập. Chốc chốc gió ngừng trong tích tắc như để thay băng đạn, thì đầu cổ lại bật lên khi gió giật. Gió liên thanh quạt lia lịa vào gối vào ngang thắt lưng, đẩy cả người chạy theo luồng cát mà bạt ra phía sát bờ biển của một bãi dài ba ngàn thước, rộng chừng trăm thước. Sóng cát đánh ra khơi, bể đánh bọt sóng vào, trời đất trắng mù mù toàn bãi như là kẻ thù đã bắt đầu thả hơi ngạt. Tôi lảo đảo trên sa trường, đi sâu mãi vào sa trường như cố tìm cho bằng hết mọi nỗi thương vong ở chỗ thiên hôn địa ám này. Hòn đảo gần hòn đảo xa, chỉ còn mờ mờ xam xám cái chót đỉnh, còn chân đảo thì đã mất trong cái mịt mùng của bụi muối ẩm. Sóng tung vòi cao và đổ dài, bọt trắng tãi thành hàng thành hàng. Sóng thúc lẫn nhau mà vào bờ âm âm rền rền như vua thủy cho các loài thủy tộc rung thêm trống trận. Tôi đúng là một cái buồm thuyền chạy vát nhưng sắp đứt dây lèo. Gió đánh bật cả từng cụm sim biển mà lùa ra biển, bụi sim biển cứ thế mà nhảy câng câng, mà lộn tùng phèo qua hết bãi cát rồi nhào đầu xuống những con sóng đứt chân đổ vào bờ. Cát vẫn bắn đón đầu. Cát vẫn bắn theo sau. Cả cái bãi vắng sa trường bỗng trở thành cái boong hoang dại của một chiếc tàu say sóng biển. Và trên đó, tôi như một người lính thủy đang cố lao về phía vị trí đằng mũi tàu. Tất cả những vỏ ốc con đều bay lên như tàn vàng giấy. Gió đặt vỏ ốc vào lòng tay tôi đang che gió. Ốc ở đây màu rất đẹp và hình vẻ nhiều kiểu khác nhau, chưa thấy mấy bãi biển mà ốc đẹp như thế. Và cũng chưa lần nào tôi được trông thấy những cái lâu đài dã tràng nghiêng ngửa tan vỡ đến như thế. Bãi bị gió mài lì, trở thành một mặt bàn bi-a đại cồ lồ trên ấy quay lông lốc hàng triệu hàng triệu viên cát dã tràng đang tìm lỗ nẻ để thụt xuống. Cuối cùng, bàn tay gió, như một anh chơi ngang phá đám đã gạt phăng hết chúng vào bất cứ con sóng đứt chân nào đổ bờ.
Về tới đảo ủy mới biết rằng tất cả các đồng chí đã chia nhau về hết các cơ sở để chống bão.
Cuối canh một sang canh hai, bão thật sự bắt đầu. Gác đảo ủy nhiều khuôn cửa kính bị gió vây và dồn, bung hết. Kính bị thứ gió cấp 11 ép, vỡ tung. Tiếng gió càng ghê rợn mỗi khi nó thốc vào, vuốt qua những gờ kính nhọn còn dắt ở ô cửa vỡ. Nó rít lên rú lên như cái kiểu người ta vẫn thường gọi là quỷ khốc thần kinh.
Phải coi như đây là một cuộc ăn vạ của gió, gió ập vào nhà mà đòi hôi của. Cái gác bê-tông mà rung lên như đài chỉ huy một con tàu đi trên sóng cuồng. Càng về gần sáng, gió đông bắc càng giật, đợt nào cũng là một đợt quỷ sứ ma vương ùa tới mà đập gõ hàng ngàn vạn cái thúng rách, mà nện vào ngàn vạn cái mâm đồng nát. Những lúc này thì cá dưới biển đang chạy đi đâu? Và dây thừng và cột buồm của thuyền Cô Tô có chịu đựng nổi cho hết trận bão không? Hòn ngói, mái tranh các xóm trên quần đảo có đứng được đầu gió này không? (…)
*
Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo sáng sủa (…) Sau mỗi lần giông bão, bao giờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại lam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa (…)
Nước biển Cô Tô sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy? (…) Cái màu xanh luôn luôn biến đổi của nước biển chiều nay trên biển Cô Tô như là thử thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng. Biển xanh như gì nhỉ? Xanh như lá chuối non? Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng? Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác. Nó xanh như cái màu áo Kim Trọng trong tiết Thanh Minh? Đúng một phần thôi. Bởi vì con sóng vừa dội lên kia đã gia giảm thêm một chút gì, đã pha biến sang màu khác. Thế thì nước biển xanh như cái vạt áo nước mắt của ông quan Tư mã nghe đàn tỳ bà trên con sóng Giang Châu thì có đúng không? Chưa được ư? Thế thì nó xanh như một màu áo cưới, được không? Hay là nói thế này: nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài người, lúc con người còn phải viết vào thân tre? Nghe hơi trừu tượng phải không? Mà kìa, nhìn cho kỹ mà xem, nước biển đang xanh cái màu xanh dầu xăng của những người thiếu quê hương. Cũng không phải là sợ lai căng, nhưng nghe nó vẫn chưa trúng vẫn chưa được ổn phải không? Sóng cứ kế tiếp cái xanh muôn vẻ mới, và nắng chiều luôn luôn thay màu cho sóng. Mà chữ thì không tài nào tuôn ra kịp được với nhịp sóng. Đua với sóng, thì chỉ có mà thua thôi. Chao ôi, nước biển Cô Tô chiều nay xanh cái màu xanh của ngọc bích. Hoặc là chao ôi, nó xanh như một niềm hy vọng trên cửa biển. Nghe nó lại càng chung chung; chưa sướng gì, nhưng thôi (…)
Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi trên đảo Thanh Luân (tức đảo Cô Tô mẹ?) một cách thật quá là đầy đủ. Tôi dậy từ canh tư. Còn tối đất, cố đi mãi trên đá đầu sư, ra thấu đầu mũi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên. Điều tôi dự đoán, thật là không sai. Sau trận bão, chân trời, ngấn bể, sạch như tấm kính lau hết bụi. Mặt giời nhú lên dần dần, rồi lên cho kỳ hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng. Lòng đỏ trứng khổng lồ đặt lên một cái mâm bạc rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mặt bể sáng dần lên cái chất bạc nén. Một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh (…)
Khi mặt trời đã lên một vài con sào, tức là lúc nó trở về sự bình dị hàng ngày, thì tôi đang múc gầu nước giếng dội lên đầu lên cổ lên vai lên lưng, nghĩa là tôi cũng đang đi tắm như mọi người lao động bình thường đang tắm quanh giếng. Cái giếng nước ngọt ở dìa một hòn đảo giữa biển cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền.
Giếng đảo Thanh Luân sớm nay có không biết bao nhiêu là người đến múc và gánh. Múc nước giếng vào thùng gỗ, vào những cong những ang gốm màu da lươn. Lòng giếng vẫn còn vài cái lá cam lá quýt do trận bão vừa rồi quăng vào. Chỗ bãi đá nuôi sáu mươi vạn con hải sâm ngoài kia, bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp đổ nước ngọt vào. Sau trận bão, hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đầu cho 18 thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng. Anh hùng Châu Hòa Mãn cùng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền. Anh quẩy nước bên bờ giếng, tôi né ra một bên. Anh quẩy 15 gánh cho thuyền anh: “Đi ra khơi, xa lắm mà. Có khi mười ngày mới về. Nước ngọt cho vào sạp, chỉ để uống. Vo gạo thổi cơm cũng không được lấy nước ngọt. Vo gạo bằng nước biển thôi” (…)
Ký sự Trường Sa: Vững tin ở Trường Sa (Tập 3)
Ký sự Trường Sa: Trường Sa và người lính biển (Tập 2)
Ký sự Trường Sa: Từ đất liền tới hải đảo (Tập 1)
Huyền thoại cầu Hiền Lương
Một số phím tắt thường dùng trong VS
Ctrl-X or Shift-Delete – Cắt mục được lụa chọn
Ctrl-C or Ctrl-Insert – Copy mục được lụa chọn
Ctrl-V or Shift-Insert – Dán
Ctrl-Z or Alt-Backspace – Quay lại một bước
Ctrl-Y or Ctrl-Shift-Z – Ngược lại với hành động trên
Esc – Đóng một menu, hủy bỏ một thao tác trong cửa sổ hiện thời.
Ctrl-S – Lưu một file hoặc một cửa sổ trong dự án mà bạn đang làm ( thông thường là cửa sổ bạn đang làm việc)
Ctrl-Shift-S – Lưu tất cả các tài liệu trong dự án
Ctrl-P – In tài mà bạn đang trình bày
F7 – Chuyển từ design view sang code view
Shift-F7 – Chuyển từ Code view sang Design view
F8 – Di chuyển con trỏ sang mục tiếp theo, nó được sử dụng trong cửa sổ TaskList hoặc trong cửa sổ tìm kiếm
Shift-F8 – Di chuyển con trỏ sang trước đó, nó được sử dụng trong cửa sổ TaskList hoặc trong cửa sổ tìm kiếm
Shift-F12 – Tìm một reference tới mục đang được chọn hoặc mục tại vị trí con trỏ
Ctrl-Shift-G – Mở file với tên đang được chọn tại vị trí con trỏ
Ctrl-/ – Chuyển hướng đến hộp lệnh tìm kiếm trên thanh Standard
Ctrl-Shift-F12 – Chuyển tới nhiệm vụ tiếp theo trong cửa sổ TaskList
Ctrl-Shift-8 – Quay trở lại trong Browse History – Sẵn có trong đối tượng trình duyệt hoặc cửa sổ Class View.
Alt-Left Arrow – Quay trở lại trong khi duyệt Web
Alt-Right Arrow – Ngược lại với hành động trên, quay lại bước trước đó trong khi duyệt Web
THỊ XÃ RA QUÂN 2/1979
Thị xã ra quân
Thị xã mình sáng nay ra quân
Tháng Ba đang mùa hoa gạo đỏ
Những phố, đường đêm qua như chẳng ngủ
Thức dậy sớm hơn mọi ngày
Những nhà có con đi sáng nay
Lục tục đỏ đèn từ mờ đất
Hàng xóm hỏi nhau thân mật
– Phố mình sáng nay mấy đứa ra đi?
Không giống ông bà mình tiễn nhau xưa kia
Chỉ lặng im, bịn rịn…
Không giống mẹ tiễn cha thuở nào đi trận
Bâng khuâng, thèn lẹn, dặn dò…
Thị xã mình sáng nay tiễn đưa
Cái háo hức nhân lên, niềm vui chia để lại
Con trai con gái
Nghe họ cười, không đoán nổi ai đi…
Ngã ba phố mình thênh thang mọi khi
Sáng nay ứ dòng xe cộ
Sáng nay đò sang bến chợ
Nhường cho khách lên đường
Mậu dịch bách hóa mở sớm hơn ngày thường
Đông con gái vào mua bút, sổ
Chị bưu điện luôn tay, lòng cởi mở
Trao tập phong bì và những con tem
Thị xã rộn lên
Chẳng ai biết tiếng loa nhắc gì trong hội trường nhà văn hóa
Cứ nghe rôm rả
Chuyện quân ta chống trả giặc thế nào
Đêm qua đài đưa tin biên giới rất lâu
Từ hôm tổng động viên bao nhiêu lá đơn gửi về Thị ủy…
Biên giới trở thành thiêng liêng trong suy nghĩ
Tiếng súng kéo khoảng trời gần hơn…
Chưa bao giờ máu gửi nhiều theo những lá đơn
Chưa buổi lên đường nào tình nguyện đông như vậy
Sông Đà tháng ba – mùa hoa gạo cháy
Đuốc non sông hừng hực lửa căm hờn
Tiễn những người con lên phía biên cương
Có tình thương trong gói cơm của mẹ
Có dáng tiễn đưa còng lưng của bà
Có cuốn sổ lưu niệm chật lời bè bạn
hẹn gặp cùng trên biên giới xa.
Và ra đi sáng nay tháng Ba
Có chàng trai bỗng đọc to bài Bình Ngô đại cáo.
NGUYỄN THỊ MAI
Từ pháo đài Đồng Đăng đến đảo Gạc Ma
Cái chết đến từ từ với những người lính rút về cố thủ trong pháo đài Đồng Đăng năm ấy. Họ đã nghĩ gì, họ đã làm gì trong những ngách hầm tối tăm, ngột ngạt vào những giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình?…
![]()

Vệt buồn rộng dài thêm, từ đó, từ đây, đến với một địa danh khác, liên quan đến bài bút ký Lạng Sơn, có một góc nhìn của tôi viết vào tháng 8-2001. Trong chồng bản thảo cũ của tôi vẫn còn lưu bài bút ký ấy và hôm nay, xin trích lại một đoạn:
Cửa hầm phía Đông của pháo đài được khai thông vào năm 2001. Nhẩm tính xem: Nó đã là 20 năm kể từ khi bị đánh sập bằng hàng tấn thuốc nổ. Cùng với các cửa hầm, các lỗ thông hơi của pháo đài sâu hàng chục mét cũng bị bịt kín bằng đất đá. Những lô cốt nổi bê tông cốt thép dày gần nửa mét cũng bị đánh sập, nứt vỡ toang hoác. Dấu tích chiến tranh chưa bị cây cỏ che khuất phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật trông thật dữ dội.
20 năm, nó bị lấp kín và trong lòng pháo đài lạnh lẽo tối om là những bộ hài cốt của bộ đội và nhân dân ta. Dưới tầng đất sâu của một quả núi nằm giữa thị xã Đồng Đăng, trong những đường hầm chặng chịt có bao nhiêu thi hài liệt sĩ? Hình như, chưa ai trả lời được câu hỏi nhức nhối đó. Pháo đài Đồng Đăng do Pháp xây, nghe đâu đã gần trăm năm, vốn đã bí ẩn lại càng bí ẩn hơn…
Cánh cửa sắt mở ra. Chân đi ủng, đầu đội mũ nhựa bảo hộ, chúng tôi đi vào đường hầm pháo đài theo sự hướng dẫn của Binh nhất Đàm Quang Thuấn. Đường hầm hẹp, hai người đứng hàng ngang đã chạm tay nhau và mái uốn vòm cong cong chỉ cao hơn đầu tôi vài đề-xi-mét. Vách và vòm xây bằng xi măng, trải qua gần trăm năm đã nứt nẻ chằng chịt. Có cảm giác chỉ cần dậm chân mạnh thì những mảng vữa ẩm ướt nhiều cạnh đó sẽ rơi xuống đầu mình. Có tiếng gì u u u u… không dứt đoạn trong lòng pháo đài. Như tiếng gió tháng Chạp thổi qua hẻm núi hẹp. Hơi lạnh phả ra rờn rợn. Từ mặt nước bập bõm ở đáy hầm. Từ vòm mái bê tông có vô vàn những giọt nước đọng tí tách rơi. Hay từ đâu nữa, hơi lạnh cứ lặng lẽ phả ra làm da mặt chúng tôi se se lại…
– Sắp đến gian hầm thờ các liệt sĩ mình rồi đấy! – Anh Mát nói khẽ.
(Đỗ Xuân Mát vốn là Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Việt Bắc, người trực tiếp phụ trách bộ đội khai thông pháo đài)
Rẽ vào một ngách ngang, chúng tôi đến gian hầm rộng chừng 16 mét vuông, cao tầm 2 mét. Thành và vòm hầm xây bằng xi măng và ít nứt nẻ hơn. Chỉ có một chiếc bàn gỗ đặt mấy bát hương chi chít chân nhang và cái giá gỗ hai tầng lưu giữ mấy hiện vật của người đã khuất. Súng AK. Dao găm. Băng đạn. Dép rọ nam. Dép lê nữ. Vài chiếc cặp tóc phụ nữ. Tất cả đã cũ kỹ, gỉ sét. Giọng anh Mát ngàn ngạt:
– Trong lúc làm nhiệm vụ, bộ đội chúng tôi tìm gặp 35 hài cốt liệt sĩ. Từ cửa Đông của pháo đài đi xuống 29 bậc gặp một ngách ngang có 12 hài cốt. Đây là những anh em đầu tiên chúng tôi tìm thấy trong pháo đài. Anh biết không, các bộ xương nằm theo những tư thế khác nhau. Người nằm nghiêng, người nằm ngửa, người nằm thẳng, người nằm co. Có bộ xương xếp theo tư thế của người lết, hai cánh tay vươn về phía trước. Những bộ xương nguyên vẹn, chứng tỏ anh em ta bị hi sinh vì ngạt thở và đói.
Cái chết đến từ từ với những người lính rút về cố thủ trong pháo đài Đồng Đăng năm ấy. Họ đã nghĩ gì, họ đã làm gì trong những ngách hầm tối tăm, ngột ngạt vào những giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình?… Thì hãy nhìn vào những bộ hài cốt đồng đội với những khẩu AK xếp bên cạnh sẽ hình dung ra phần nào hình ảnh người lính trong giờ phút cận kề cái chết. Những người lính ấy đã làm tròn bổn phận của mình và cái chết của họ là sự ra đi oanh liệt của người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc…
Và tôi thiết nghĩ rằng…ít nhất nơi cửa hầm vừa được khai thông vào mùa xuân đầu tiên của thế kỷ hai mươi mốt phải có một bia tưởng niệm khắc rõ dòng chữ: “Tổ quốc ghi công những chiến sĩ và đồng bào đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước năm 1979”.
Một tấm bia ghi ơn và nhắc nhở đời sau. Một địa chỉ viếng thăm của người lên xứ Lạng. Mọi cuộc chiến tranh đều được chép vào lịch sử. Ai hi sinh vì Tổ quốc đều phải được ghi tạc công lao…
Nỗi buồn của nàng Tô Thị là có thật, giống như nỗi buồn từ các cuộc chiến tranh đưa lại. Trong người đàn bà hóa đá ấy có nỗi đau mất mát, nỗi chờ mong của rất nhiều phụ nữ Việt Nam. Bao nhiêu thế hệ trai tráng đất nước này đã ngã xuống để gìn giữ cõi bờ non sông. Máu đã chảy thành sông, xương đã chất thành núi; sông núi Việt Nam là tài sản thiêng liêng vô giá không ai có thể xâm phạm lấy đi của ta dù chỉ là tấc đất, mét nước. Trong mọi giá trị làm người, giá trị công dân thì lòng yêu nước luôn ở vị trí hàng đầu và trước tiên.
Yêu nước, dâng hiến và xả thân cho Tổ quốc là nhân phẩm của con người. Tổ quốc trên hết, đấy không phải là câu nói đầu môi chót lưỡi mà là tình cảm, là hành động của mỗi chúng ta. Tôi nghĩ, chúng ta không đem lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc đặt lên nòng súng để kích động chiến tranh xung đột, nhưng khi Tổ quốc bị xâm lăng thì đó là vũ khí, là năng lượng có khả năng bùng nổ rất lớn của dân tộc này. Lịch sử đã minh chứng điều đó, dân tộc Việt Nam đã từng chiến đấu và chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần về kinh tế và quân sự.
* *
*
Lại có những nỗi chờ mong khắc khoải không hóa đá. Biết người thân không về, không bao giờ về nữa mà vẫn canh cánh nỗi đợi chờ giống sự mộng du. Biển Việt. Sóng vun lên những luống mộ trắng xóa. Nói là sóng bạc đầu đã đúng nhưng hình như chưa đủ khi biết rằng trong trắng xóa, mặn mòi của sóng đang trú ngụ những linh hồn bất tử. Bất tử linh hồn những người dân, người lính còn quần tụ ở Hoàng Sa và ở những đảo nổi, đảo chìm của Tổ quốc.
Tôi đã không cầm được nước mắt khi xem bức ảnh Trung úy Đinh Ngọc Doanh chụp với con gái mình. Bố chụp ảnh với con gái yêu đâu phải là điều gì lạ lẫm. Có hàng nghìn, hàng triệu tấm ảnh như thế, đen trắng và màu mè, đủ cả trên trái đất này. Trước mắt tôi là gương mặt điềm tĩnh hiền lành của người sĩ quan trẻ bên cái vẻ rụt rè ngây thơ của con gái chừng ba, bốn tuổi. Bé gái đã vĩnh viễn mất cha từ buổi sáng 14-3-1988. Một cuộc chiến đấu khốc liệt giữa những người giữ đảo với đội quân ăn cướp lãnh thổ đã xảy ra trong buổi sáng ấy. Gạc Ma.
Hàng loạt đạn 37 ly của bọn xâm lược bắn xối xả vào những người lính chúng ta khi họ còn dầm chân trong làn nước biển mặn chát. Không có một bờ đất, mỏm đá che thân, không hề có một đoạn chiến hào công sự nào. Điểm tựa duy nhất của những chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam lúc ấy là lòng yêu nước, lòng tự tôn, tự chủ, tự hào dân tộc. Thế thôi. Những con người Việt Nam bé nhỏ mong manh đứng giữa bao la trời nước, giương cao cờ Tổ quốc, lấy nền đỏ sao vàng quấn vào mình, một tấc không đi, một li không rời với tinh thần Thà hi sinh chứ nhất định không rời đảo. 64 chiến sĩ của chúng ta đã hi sinh trong trận hải chiến không cân sức đó, những Trần Văn Phương, những Đinh Ngọc Doanh… đã ngã vào lòng biển Việt, ngã vào cõi bất tử thiêng liêng của dân tộc.
Những vòng hoa lênh đênh trên sóng sẽ trôi về đâu trong mêng mang mây nước? Những hương khói ngạt ngào trên biển mặn có lay thức được bấy miên man đang trôi nổi bồng bềnh? Tôi tin, các anh sẽ nhận được tấm lòng thành của người đang sống và tôi cũng tin rằng, vong linh những người đã ngã xuống vì chủ quyền của đất nước vẫn hằng mong điều cao đẹp, trong sạch ở chúng ta. Và, như vậy là các anh đang sống, sống đẹp giữa lòng dân tộc, như là cuộc phục sinh huyền diệu nhất, bền vững nhất của những người yêu nước.
Nỗi đau, đó là điều không chối cãi và ta cũng không giấu giếm. Thì lòng tự hào chính đáng, khí phách ngoan cường cũng là năng lượng dồn góp lại cho sự trường tồn dân tộc xưa nay. Sẽ sống mãi, sẽ sáng tỏa mãi tinh thần vì nước quên thân có từ bao đời nay trong lịch sử dân tộc.
Pháo đài Đồng Đăng năm 1979, đảo chìm Gạc Ma năm 1988, những dấu mốc, những địa chỉ anh hùng trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền đất nước, không thể lãng quên, không thể chìm khuất.
Tất cả những ai vì chủ quyền đất nước mà ngã xuống đều phải được tôn vinh, ghi công xứng đáng!
NGUYỄN HỮU QUÝ (BÁO BIÊN PHÒNG)