Biến mất rồi, những tiếng ru hời bên nôi…

Không chỉ dân tộc Việt, hầu như tất cả các dân tộc trên thế giới từ xa xưa đều biết dỗ trẻ ngủ qua những câu hát ru. Những câu hát nhẹ nhàng, đơn giản được lấy từ ca dao, đồng dao của mỗi dân tộc hoặc các bài thơ, điệu hò, điệu lý có trong dân gian được truyền tụng từ thế hệ trước đến thế hệ sau.

Đấy là một trong những cách bảo lưu hồn cốt của mỗi dân tộc một cách hữu hiệu nhất.Sữa nuôi phần xác, hát ru nuôi phần hồn

Không ai biết hát ru có tự bao giờ và bắt nguồn từ đâu. Chỉ biết rằng, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, ăn sâu vào tâm hồn người Việt. Giữa trưa hè oi ả hay những đêm đông lạnh giá, lời ru của bà, của mẹ cất lên lúc thì như một làn gió mát dịu, khi lại như ngọn lửa ấm nồng đưa bé chìm sâu vào giấc mộng. Trong lời ru có cánh cò bay lả bay la, có cái bống chịu thương chịu khó giúp mẹ việc nhà, có con cún con hay nô đùa với bé.

Những bài hát ru thường rất đa dạng, mang đậm tính chất vùng miền, địa phương. Các bà mẹ ru con thường chỉ quan tâm đến phần lời ca có vần vè, dễ nhớ, còn giai điệu, mỗi người có một giọng điệu trữ tình tương hợp với tình cảm mẹ dành cho con, bà dành cho cháu, nhưng cốt sao làm cho bé dễ ngủ mà vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời mỗi người.

Theo nhiều nghiên cứu khoa học, mặc dù thai nhi nằm trong nước ối và được bao bọc bởi nhiều lớp cơ, màng, nhưng vẫn có thể nghe được tiếng động, tiếng nhạc, nhịp nhanh chậm, tông độ cao thấp… tác động từ bên ngoài, gần như chính xác. Tiếng nói của mẹ có cường độ mạnh vì truyền theo cơ thể thẳng vào tử cung. Tiếng động có khả năng thay đổi nhịp tim của thai nhi. Do đó nhịp điệu của bài hát mẹ ru đem lại cho con trẻ cảm giác “an toàn” đang được mẹ bảo vệ để chúng nhanh chóng có thể chìm sâu vào giấc ngủ.

Theo một nghiên cứu của Đại học Ohio (Nhật Bản), hát ru là những kích thích rất có lợi không những với sự phát triển ngôn ngữ, tâm lý và sinh lý, mà còn cả phát triển thể chất của trẻ nhỏ. Nhiều người đã xác nhận rằng những trẻ hằng ngày được kích thích bằng hát ru trong thời gian khoảng 10 phút, thì phản xạ vận động tốt hơn nhiều so với trẻ không được nghe hát ru.

Còn theo Giáo sư Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam nổi tiếng thế giới, thì “Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”. Theo ông, lời ru của mẹ đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành nhân cách của một đứa trẻ. Cũng theo ông trong thời kỳ mang thai, nếu đứa trẻ được thai giáo bằng âm nhạc đúng cách sẽ có tác dụng tích cực rõ ràng đến sự hình thành tính cách của các em khi lớn lên.

Vì sao hát ru ngày càng thưa vắng?

Trong bận rộn mưu sinh, không chỉ ở các thành phố lớn hay khu công nghiệp, người ta bị cuốn vào guồng quay của thời kinh tế thị trường, thời gian làm việc và năng suất lao động quyết định đến niêu cơm và chiếc ví mỗi người, mà ngay cả ở những vùng quê thuần nông, tiếng ru của những người mẹ trẻ cũng ngày một thưa vắng hơn. Hiện nay chưa có một số liệu điều tra xã hội học nào đủ tin cậy để trả lời cho câu hỏi vì sao tiếng ru của những bà mẹ ngày càng lụi tàn đi.

Không biết do quá bận rộn hay vì hẹp vốn lời ca mà nhiều mẹ trẻ mỗi khi cho con ngủ, thay vì tự hát ru thì lại “nhờ” cát xét ru hộ. Thế nhưng đã mở hết một đĩa DVD rồi mà mắt bé vẫn mở thao láo. Đến khi bà ôm cháu vào lòng, tay xoa nhẹ vào lưng, lên đầu, ánh mắt nhìn cháu trìu mến rồi bà cất lời ru: “À… à… à… ơi… Con ơi muốn nên thân người/ Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha/ Gái thời chăm chỉ trong nhà/ Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa/ Trai thì đọc sách ngâm thơ/ Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa/ Nữa mai nối được nghiệp nhà/ Trước là đẹp mặt, sau là hiển thân… à… à… à… ơi…”. Thế là bé dần lim dim đôi mắt, chìm vào giấc nồng lúc nào không biết.

Nhiều bà mẹ trẻ bây giờ, mỗi khi ru con ngủ chỉ ậm ừ trong cổ họng hay hát những bài không đầu, không đuôi. có bà mẹ trẻ còn mở những bản nhạc híp hốp… làm inh tai, nhức óc con trẻ.

Còn diva Mỹ Linh đã tiết lộ rằng, con cái của chị rất sợ khi nghe mẹ hát ru, vì chúng nó thích nghe nhạc ngoại. Sau khi nữ ca sĩ này thử hát ru một bài, danh hài Hoài Linh nhận xét thẳng tưng: Nghe em ru con như thế, con em muốn nghe nhạc ngoại là đúng rồi. Ối giời ơi, hát ru ơi là hát ru!

Có nhiều người còn cho rằng, hát ru vừa làm mất thời gian, lại phải bế bồng, vỗ về, vuốt ve, như vậy sẽ làm hư đứa trẻ vì lần sau cứ phải hát ru nó mới chịu ngủ. Đối với những người có thời gian thì không sao, còn đối với những người bận rộn, điều đó là phù phiếm và xa xỉ.

Giáo sư Trần Văn Khê băn khoăn, cho rằng vì không biết cách ru con mà nhiều bà mẹ trẻ Việt Nam không còn chú trọng việc hát ru con ngủ. Trong khi đó một số người lại nghĩ chỉ cần “ép” cho trẻ nghe thật nhiều thì đứa bé lớn lên sẽ thông minh, lanh lợi. Thế nhưng, đã mấy ai biết rằng trẻ sinh ra và lớn lên không chỉ cần sữa mẹ mà còn cần vòng tay vỗ về, mùi mồ hôi và cả những tiếng ru của mẹ, cùng với sự chăm sóc, nâng niu ân cần của người cha…

Những điều ấy đã một phần lý giải tại sao hát ru bây giờ ngày càng thưa vắng hơn.

VIÊN AN (GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO)

Chuyện chưa kể của ca khúc đầu tiên về Trường Sa

Hơn ba mươi năm qua, nhiều thế hệ ca sĩ như Trọng Tấn, Thanh Thúy, Long Nhật, Khánh Hòa, Quang Long, Hoài Thanh… đã thể hiện thành công bài hát “Gần lắm Trường Sa” của nhạc sĩ Hình Phước Long… Bài hát đã trở thành người bạn tinh thần của các chiến sĩ hải quân ở nơi đầu sóng ngọn gió…

Công dân danh dự của Trường Sa!

“Không xa đâu Trường Sa ơi/ Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh/ Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em…” (Gần lắm Trường Sa). Từ khi ca khúc ra đời, nhiều khán thính giả yêu nhạc đã thuộc lòng giai điệu của ca khúc của nhạc sĩ Hình Phước Long.

Khi sáng tác ca khúc “Gần lắm Trường Sa”, nhạc sĩ Hình Phước Long thừa nhận, mình không nghĩ một ngày nào đó, ông lại trở thành “công dân danh dự của Trường Sa”, như Bộ đội Trường Sa đã trìu mến suy tôn mình. Có một câu chuyện cảm động trong năm 2011, khi bà Huỳnh Thị Qua, Việt kiều quê Nha Trang, hiện định cư ở nước Úc đã cùng con cháu trong gia đình góp số tiền tương đương 7 triệu đồng, thông qua văn phòng đại diện báo Cựu Chiến binh Việt Nam ở Khánh Hòa để gửi tặng tác giả “Gần lắm Trường Sa” – nhạc sĩ Hình Phước Long. Số tiền không nhiều, nhưng đó là tấm lòng tri ân của một người con xa đất Việt luôn đau đáu về Trường Sa, biển đảo quê hương Việt Nam yêu dấu. Trong tâm thức bà Qua, nhạc phẩm “Gần lắm Trường Sa” dường như đã trở thành người bạn tâm giao của mình.

Nhạc sĩ Hình Phước Long gắn liền cuộc đời mình với biển Nha Trang, Khánh Hòa. Trong sâu thẳm tâm hồn người nhạc sĩ ao ước được sáng tác ca khúc về biển đảo, về Trường Sa. Nhiều lần đứng trước biển, ông vọng tầm mắt về phía biển xa xăm, hình dung những người lính đang canh giữ vùng trời biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Nhiều lần ông đặt viết ca khúc về Trường Sa, nhưng đành buông bút, bất lực trước trang giấy. Phải đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi ông đang công tác ở Phòng Văn hóa – Thể thao huyện Cam Ranh (Khánh Hòa), mỗi khi được bộ đội Lữ đoàn 146 Hải quân mời đến nghe kể chuyện về đời sống, tâm tư lính đảo Trường Sa, rồi được xem phim tài liệu “Tổ quốc nơi đầu sóng” của Hãng phim Quân đội nhân dân, ông rất xúc động. “Kỳ vĩ và lãng mạn! Sóng nước mênh mang, chim hải âu bay rợp trời, hình ảnh kiên cường của đảo và giây phút bâng khuâng khi người lính trẻ nhớ về đất liền, bao tình cảm dạt dào chỉ biết bày tỏ qua những cánh thư… Mình quả quyết ghi vào lưu bút của Lữ đoàn: Sẽ có một bài hát về Trường Sa!” – nhạc sĩ Hình Phước Long tâm sự.

Ông thầm hứa tự nhủ với lòng mình, sẽ viết một ca khúc tặng bộ đội Trường Sa như một lời tri ân với sự hy sinh của họ, khi không được gần người thân, chịu nhiều khó khăn thiếu thốn so với người dân trong đất liền.

Người đầu tiên viết ca khúc về Trường Sa

Trước “Gần lắm Trường Sa”, chưa một nhạc sĩ nào viết về Trường Sa. Phải đến năm 1982, trong dịp tập huấn sáng tác ở Nha Trang, một chiều ông đạp xe dạo dọc đường Trần Phú ven biển, giữa những cơn gió biển đang mơn man, lùa vào cơ thể mình, bất chợt nhìn thấy một nữ sinh vận áo dài trắng phấp phới tóc thề, vẻ cô đơn tư lự nhìn xa xăm ra biển. Nhạc sĩ thầm nghĩ, nếu có người yêu ở Trường Sa, em có nghe lời tâm tình theo sóng biển vọng về? Cảm xúc vụt dâng trào, lời ca, giai điệu đến dễ dàng. Bài hát hoàn tất được chép tạm vào tờ giấy trong vỏn vẹn hơn một giờ đồng hồ, rồi ông trở về ngôi nhà nhỏ ở thị trấn Ninh Hòa (nay là thị xã Ninh Hòa): “Mỗi cánh thư về từ đảo xa/ Anh thường nói rằng Trường Sa lắm xa xôi/ Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ/ Bên đồng đội yêu thương/ Chỉ có loài chim biển/ sóng vỗ điệp trùng quanh gành trúc san hô/ Trường Sa ơi!/ Biển đảo quê hương/ Đôi mắt biên cương vẫn sáng long lanh giữa sóng cuồng bão giật/ Không xa đâu Trường Sa ơi!/ Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em/ Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh”…

Bài hát viết về người lính, nhưng không mang kết cấu âm hưởng hùng tráng như thường thấy. Giai điệu và lời ca như tâm tình, lắng đọng thiết tha, giản dị, dễ hát, phảng phất chất dân ca, phản ánh chân thành tình cảm của chiến sĩ nơi tiền tiêu xa xôi của Tổ quốc. Người đầu tiên thể hiện ca khúc, không ai khác là ca sĩ Anh Đào. Với chất giọng dân ca trời phú, Anh Đào đã thể hiện thành công ca khúc. Nhạc sĩ Hình Phước Long xác nhận: Dù bài hát được nhiều thế hệ ca sĩ thể hiện, nhưng không ai hát thành công như Anh Đào. Năm 1983, ông viết thêm ca khúc Gặp anh trên đảo Sinh Tồn, tham dự cuộc thi sáng tác do Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức và đoạt giải nhì (không có giải Nhất).

Một năm sau, ông mới có cơ hội được ra thăm quần đảo Trường Sa: “Dẫu chưa đặt chân tới nhưng những gì mình cảm nhận và viết về nơi này đều rất chân thực. Khi biết mình, anh em bộ đội đứng chờ trước đó rất lâu. Mình vừa xuống tàu thì họ túa đến vây xung quanh, ôm chầm thân thiết như người quen lâu ngày gặp lại. Quá xúc động, trong khi còn chếnh choáng vì say sóng nhưng anh em bộ đội yêu cầu, mình đã cầm đàn ghi ta đứng hát giữa đảo. Khi ấy, mình và nhiều anh em bộ đội đã khóc”.

KIM HẠNH (GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO)

Tiết lộ của đặc nhiệm Liên Xô tham chiến ở Việt Nam

Cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, nguyên sĩ quan Lính thủy đánh bộ Hải quân Liên xô đại úy hồi hưu Kusainov Sadykov kể lại thời gian tham chiến ở Việt Nam với niềm tự hào đặc biệt.

Nhiệm vụ quốc tế

Sinh ra và lớn lên ở Kusainov Sadykov miền Bắc Kazakhstan. Nhưng hiện nay người cựu chiến binh đang sống tại Vladivostok. Những năm tuyệt vời nhất của đời mình ông đã phục vụ trong lực lượng đặc nhiệm thuộc Lính thủy đánh bộ Hải quân Xô Viết và do đó ông tiếp tục sống ở đó, nơi đơn vị ruột thịt của ông đóng quân.

– Kusainov Sagyndykovich, theo những thông tin chính thức được công bố, Liên bang Xô viết đã giúp đỡ và viện trợ vũ khí trang bị, kỹ thuật và cơ sở vật chất chiến tranh cho Việt Nam trên quy mô to lớn. Trực tiếp tham gia vào các hoạt động tác chiến với tư cách là chuyên gia, cố vấn và huấn luyện viên, những cán bộ kỹ thuật tên lửa và không quân. Bằng cách nào mà ông lại có thể có mặt ở chiến trường Đông Nam Á?

– Vào năm 1966 ngày sau khi hoàn thành đợt huấn luyện tân binh tôi được điều động về thành phố Baltiysk, ở đó, trên cơ sở vật chất của trung đoàn cận vệ số 366 vừa được biên chế mới trung đoàn lính thủy đánh bộ độc lập. Trong thời gian này tôi mơ ước được phục vụ trong lực lượng đổ bộ đường không. Thể lực mạnh mẽ và chiều cao cho phép điều đó. Nhưng tôi gặp may hơn thế, tôi không hề biết, có lực lượng lính thủy đánh bộ như vậy. Vào năm 1956 quyết định của Bộ quốc phòng Liên bang Xô viết đã giải thể toàn bộ lực lượng lính thủy đánh bộ.

Nhưng đến năm 1963, một cuộc diễn tập quân sự lớn tầm chiến lược của khối hiệp ước Vacsava không đạt kết quả như ý muốn do không có lực lượng lính thủy đánh bộ. Các sỹ quan của chúng ta kể rằng sự hình thành lực lượng lính thủy đánh bộ có nguyên nhân chính là chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc chiến đã có sự tham gia của lính thủy đánh bộ Mỹ (Sư tử biển). Và những người bạn Việt Nam về kỹ năng tác chiến còn nhiều điểm hạn chế.

Sau một năm rưỡi phục vụ, một số anh em trong đại đội của tôi được đề nghị sang công tác ở Việt Nam nửa năm. Quy trình lựa chọn quân nhân sang Việt Nam do một cán bộ đặc biệt từ bộ tham mưu quân khu thực hiện. Nhìn chung lựa chọn những quân nhân có nước da sẫm và nguồn gốc xuất thân từ châu Á. Trong cuộc nói chuyện riêng tư người cán bộ đặc biệt đề nghị kiểm tra kỹ năng chiến đấu và tình yêu tổ quốc, sẵn sàng tuân thủ mệnh lệnh và sẵn sàng thực hiện sứ mệnh quốc tế vô sản ở Việt Nam.

Từ những nhận xét của người cán bộ, những khuôn mặt và nước da châu Á của chúng tôi rất phù hợp với nhiệm vụ huấn luyện viên quân sự ở Việt Nam. So sánh giữa “Có” và “Không” lắng nghe tiếng nói của người cán bộ KGB thông minh, tôi đã đồng ý. Thời điểm lúc đó là lòng yêu nước cao cả. Tất cả chúng tôi đều tin tưởng vào chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời dòng máu trẻ trung đã lên tiếng, chúng tôi muốn gặt hái những chiến công.

– Cảm giác đầu tiên là gì khi ông khi tới Việt Nam, nhiệm vụ của ông là gì?

– Cảm giác đầu tiên – sự lo lắng. Tôi cảm thấy lo lắng khi máy bay vận tải quân sự của chúng tôi hạ cánh xuống vùng núi non. Có một số căn cứ quân sự của những người anh em Việt Nam xây dựng ở khu vực đó. Thông qua các căn cứ này đã cung cấp vũ khí trang bị và những chiến sĩ của miền Bắc Việt Nam vào chiến đấu ở phía nam và phía tây của Nam Việt Nam. Đây là những con đường bí mật, nhưng sau này nổi tiếng thế giới với tên gọi “Đường mòn Hồ Chí Minh”.

Mặc dù trong thực tế nó không phải chỉ là một con đường, mà là cả một hệ thống hạ tầng phức tạp của những con đường xuyên qua núi rừng liên kết ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào. Đến năm 1968, “đường mòn” đã trở thành một cơ sở hạ tầng phức tạp với các bệnh viện, kho tàng dưới lòng đất. Một số khu vực đường đã được trải nhựa và có thể được sử dụng như một đường băng dã chiến.

Khó khăn nhất là làm quen với khí hậu ẩm thấp của rừng nhiệt đới, và chúng tôi phải học cách thích nghi thật nhanh. Điều đó cũng dễ hiểu, trên thực tế cuộc chiến tranh diễn ra trên Miền Nam Việt Nam là cuộc chiến tranh của người Việt Nam bằng chính lực lượng của mình. Đấy là Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam – lực lượng dân quân du kích, trang bị bằng vũ khí tự có và tự huấn luyện với chất lượng không cao. Trên thực tế, những chiến sĩ du kích chỉ làm được nhiệm vụ quan sát, trinh sát tình hình địch và không có khả năng chống lại những cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Mỹ. Lính Mỹ gọi họ là VC.

Cũng có những lực lượng quân đội chính quy, được trang bị tốt và huấn luyện đầy đủ. Phần lớn quân số trong đó là những chiến sĩ, quân nhân ngoài Miền Bắc. Các lực lượng vũ trang từ miền Bắc được sự giúp đỡ và huấn luyện của các chuyên gia quân sự Xô Viết, đồng thời được trang bị vũ khí khí tài của Liên xô. Do đó, kỹ năng và năng lực tác chiến tốt hơn rất nhiều.

Tôi và những người lính thủy đánh bộ Xô Viết được giao nhiệm vụ trong vòng hai tháng phải huấn luyện hai đội biệt động với tổng số quân đến 50 người. Sau đó thì chúng tôi cũng trở thành những người tham mưu trực tiếp. Chỉ huy của chúng tôi là Trung tá Nguyễn Đình Kỷ – tôi nghĩ vậy, anh ấy cũng biết tiếng Nga, vì thế đôi khi vui vẻ, tôi dạy anh ấy tiếng Kazakhstan. Anh ấy cũng nói được vài câu. Anh ấy nói, đấy là những từ cần thiết nhất mà người Việt ở Kazakhstan cần biết. Tôi hỏi anh ấy, tiếng Việt để tỏ lòng biết ơn là thế nào, anh ấy dạy tôi từ “Cảm ơn”, lòng tốt của anh ấy làm tôi cảm động.

Nói chung, tất cả những người Việt Nam đều là những học trò rất năng khiếu. Họ có sức chịu đựng rất cao, không sợ khó khăn gian khổ, điều vô cùng quan trọng đối với lính thủy đánh bộ, đồng thời họ rất dũng cảm và có tinh thần chiến đấu rất cao.

Ngoài ra, rất nhiều chiến sĩ biệt động Việt Nam có trình độ võ thuật cao và kỹ thuật chiến đấu đặc sắc, hình như đó là Nhất Nam, một môn võ rất cổ truyền của Miền Nam. Điều làm ảnh hưởng đến công tác huấn luyện chỉ là trình độ học vấn thấp và rào cản ngôn ngữ. Đối với tôi, áp lực tinh thần cũng rất lớn khi có mặt ở miền đất xa lạ. Nhưng mỗi buổi sáng tôi thức dậy bao giờ cũng là ý nghĩ tôi đã làm đúng. Tôi là chiến sĩ và đây là sứ mệnh quốc tế vô sản của tôi.

Mệnh lệnh: “Trở thành người anh hùng”

– Trong các chiến dịch nào của quân Giải phóng ông được tham gia? Công tác huấn luyện của ông có mang lại những kết quả tốt đẹp cho những người lính biệt động?

– Những học trò, chiến sĩ của tôi khi quay trở lại căn cứ bao giờ cũng là chiến thắng. Không thể khác được. Khẩu hiệu của lính thủy đánh bộ là: “Ở đâu có chúng tôi – ở đó là chiến thắng” những người bạn chiến đấu của tôi hiểu rõ điều đó.

Tôi đặc biệt nhớ chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968 – chiến dịch “Tết”, bắt đầu vào ngày Tết cổ truyền của người Việt Nam. Vào tháng giêng năm 1968, các lực lượng vũ trang Miền Bắc đã khóa cứng quân đội Mỹ ở khu vực gần khu phi quân sự – Khe Sanh. Đồng thời, lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc tổng tiến công vào hầu hết các thành phố và thị trấn trên toàn Miền Nam, bao gồm cả Đà Nẵng, Kon Tum và Pleiku. Các nhóm nhỏ biệt động được giao nhiệm vụ tấn công vào các mục tiêu riêng biệt đã được lựa chọn. Tôi có nhiệm vụ chuẩn bị cho một phân đội đặc biệt và nhiệm vụ đã được hoàn thành xuất sắc.

Trong tổng số các trận chiến đấu nói chung, phân đội của tôi đã phá hủy hoàn toàn ba căn cứ quân sự hạng trung cung cấp cơ sở vật chất chiến tranh của NATO. Những người bạn chiến đấu của tôi đã tiến hành 4 cuộc phục kích thành công. Trong trận chiến đã bắt được 5 viên sĩ quan Mỹ…

– Tổng thời gian ông ở Việt Nam là bao lâu?

– Nửa năm, cho đến khi bị thương. Sau khi hồi phục, có đề nghị cho ra quân, nhưng tôi quyết định tiếp tục sự nghiệp của mình trong quân đội và đăng ký học tại Trường sỹ quan quân sự chung cao cấp Viễn Đông. Nói chung, thời tuổi trẻ hầu như ai cũng muốn là anh hùng và trong tôi luôn có dòng máu anh hùng…Tôi đã trải qua cuộc chiến tranh này như những người bạn – người đồng chí Việt Nam.

Trong những năm gần đây bắt đầu có những hoạt động của những đại diện các tổ chức cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở Moskva thường xuyên có những cuộc gặp gỡ của những người bạn chiến đấu. Cơ bản là những quân nhân, chuyên gia phòng không, kỹ thuật tên lửa và không quân. Hàng năm các cựu chiến binh Việt Nam gặp nhau, ôn lại chuyện cũ với niềm tự hào chiến thắng. Theo lời của Kusainov Sadykova, đây chỉ là một phần của những người thực sự tham gia vào các cuộc chiến tranh giải phóng. Nhiều người đã hy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế, một số sau đó hy sinh ở Afghanistan.

Theo TIỀN PHONG

Một chiều ngược gió

Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh

Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi

Ngược lòng mình tìm về nông nổi

Lãng du đi vô định cánh chim trời

Em ngược thời gian, em ngược không gian

Ngược đời thường bon chen tìm về mê đắm

Ngược trái tim tự bao giờ chai lặng

Em đánh thức nỗi buồn, em gợi khát khao xanh

Mang bao điều em muốn nói cùnganh

Chợt sững lại trước cây mùa trút lá

Trái đất sẽ thế nào khi mầu xanh không còn nữa

Và sẽ thế nào khi trong anh không em?

Em trở về im lặng của đêm

Chẳng còn nữa người đông và bụi đỏ

Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió

Riêng chiều nay – em biết, một mình em ….

Lịch sử ra đời Ngày thương binh liệt sỹ 27 tháng 7

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta. “Không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu chặn tay quân xâm lược. Trong những tháng, năm đầu của cuộc kháng chiến, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống, đã đổ máu trên các chiến trường.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ – ngày 19 tháng 12 năm 1946, theo lời kêu gọi cứu nước của Bác Hồ, nhân dân cả nước nhất tề đứng lên kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, thương binh liệt sĩ trở thành vấn đề lớn.

Trước yêu cầu bức xúc đó, cùng với việc kêu gọi giúp đỡ thương binh gia đình tử sĩ, ngày 16/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

Để chỉ đạo công tác thương binh tử sĩ trong cả nước, ngày 26/2/1947, Phòng thương binh thuộc Chính trị Cục, quân đội quốc gia Việt Nam được thành lập. Đầu tháng 7/1947 Ban Vận động tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” được thành lập.

Cùng thời gian này, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, các đại biểu Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, Nha Thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã dự một cuộc họp. Tại cuộc họp này, theo đề nghị của đại diện Chính trị Cục quân đội Quốc gia Việt Nam các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là ngày Thương binh toàn quốc.

Chiều ngày 27/7/1947, “Ngày thương binh toàn quốc”, mở đầu bằng cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ (Thái Nguyên). Tại cuộc mít tinh, các đại biểu đã nghe đại diện Chính trị Cục Quân đội Quốc gia Việt Nam đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức ngày thương binh toàn quốc.

Trong thư Bác viết:

“… Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu…”.

“… Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy…”.

Từ đó, đến ngày 27/7 hàng năm, Bác Hồ đều gửi thư thăm hỏi, động viên các thương binh, gia đình liệt sĩ và nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ.

Ngày thương binh, tử sĩ 27/7/1948, trong Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“… Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, đã hy sinh cho đồng bào.

Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ phải tìm mọi cách để giúp đỡ anh em thương binh và gia đình tử sĩ.

Tôi cũng rất mong đồng bào sẵn sàng giúp đỡ họ về mặt vật chất và tinh thần…”.

Nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ, ngày 27/7/1997, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nơi chứng kiến sự ra đời của ngày Thương binh toàn quốc, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội cùng Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã khánh thành khu kỉ niệm 27/7 và dựng bia kỉ niệm với nội dung được khắc trên bia:

“NƠI ĐÂY, NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 1947, 300 CÁN BỘ, BỘ ĐỘI VÀ ĐẠI DIỆN CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG HỌP MẶT NGHE CÔNG BỐ BỨC THƯ CỦA BÁC HỒ, GHI NHẬN SỰ RA ĐỜI CỦA NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ”.

Cũng nơi này, vào dịp kỉ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ (12/7/1997) đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử.

Theo TẠP CHÍ DÂN TỘC

Thời khắc bi tráng của con tàu số 645

Sau lưng chúng tôi bỗng bùng lên cột lửa cùng tiếng nổ vang dội, một luồng bão kéo theo ngọn sóng cực mạnh hất chúng tôi về phía rừng đước…

Trong ngõ 301, phố Ngô Gia Tự, quận Hải An, thành phố Hải Phòng có một sĩ quan hải quân đã nghỉ hưu, tóc bạc trắng còn khỏe mạnh, minh mẫn. Ông tên là Thẩm Hồng Lăng, 68 tuổi. Giống như nhiều cựu chiến binh khác, giờ ông sống vui cùng con cháu và luôn quan tâm gần gũi các thanh, thiếu niên xung quanh. Đến Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7) hàng năm, ông thường kể cho thế hệ trẻ nghe câu chuyện chiến đấu của đồng đội “Tàu không số”; về giờ phút hy sinh bi tráng trên biển Đông của người Chính trị viên tàu 645: Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu.

Trong thư mục lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam, “Đoàn tàu không số”, “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” gắn với trang sử vô cùng anh dũng, vẻ vang của một đơn vị đặc biệt thuộc Quân chủng Hải quân thời chống Mỹ. Đó là Lữ đoàn 125 thân yêu của tôi, gồm những tàu vận tải, bên ngoài không ghi số hiệu, nhưng mỗi tàu có bí số riêng, như: 43, 56, 164, 235… Lữ đoàn ngày đó chuyên làm nhiệm vụ chở vũ khí, khí tài cho chiến trường Nam Bộ. Tàu không số được ngụy trang như tàu đánh bắt cá xa bờ của ngư dân, trang bị phương tiện hàng hải ngoài la bàn và máy đo tốc độ bằng chân vịt có thêm ống nhòm, máy vô tuyến điện sóng ngắn 108 liên hệ với trung tâm bằng tín hiệu mooc và đèn pin để bắt tín hiệu với đất liền khi tàu gần vào bến. Mỗi tàu còn được cài đặt sẵn những khối bộc phá lớn ở hầm tàu, phòng khi bị địch phát hiện không còn đường thoát, để bảo đảm bí mật tuyệt đối, lâu dài con đường vận chuyển trên biển thì cho nổ tung. Chuyến tàu không số đầu tiên của Thuyền trưởng Nguyễn Bất xuất phát đêm 30 Tết năm 1960 từ một lạch nhỏ ở miền Trung, đến vùng biển tỉnh Quảng Nam bất ngờ đụng địch, hầu hết chiến sĩ đã hy sinh. Chuyến thứ hai do Thuyền trưởng Lê Văn Một chỉ huy, xuất phát ngày 18/4/1962 tại lạch Trung Kiên, sau gần một tháng lênh đênh trên biển đã cặp bến Vàm Lũ, Cà Mau an toàn, chính thức khai thông Đường Hồ Chí Minh trên biển. Trong vòng 10 năm sau những chuyến đầu tiên ấy, có hàng trăm lượt tàu không số liên tục đi làm nhiệm vụ, vận chuyển được hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược cho chiến trường. Trong số đó cũng có một số trường hợp đụng địch, cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra, cuối cùng người chiến sĩ tàu không số hiên ngang lựa chọn phương án “nổ tung”, không để phương tiện và hàng rơi vào tay giặc.

Con tàu không số của chúng tôi mang bí số 645, đến thời điểm đầu năm 1972 đã thực hiện được 13 chuyến vào Nam thành công. Chuyến thứ 14 chở hàng cho Quân khu 9 bị trục trặc. Hai lần nhổ neo đụng tàu địch phải quay lại. Lần thứ ba, xuất hành ngày 12/4/1972 lúc đầu trót lọt, đến vùng biển quốc tế, xuôi xuống phía biển Philippin, vòng qua Indonesia, Malaysia. Đi được 11 ngày đêm đến vịnh Thái Lan, cách đảo Phú Quốc chừng 60 hải lý, định đêm hôm đó sẽ cập bến. Buổi chiều, khi tàu đang hướng về phía đảo Phú Quốc, chúng tôi nhận được bức điện báo ngắn khẩn cấp từ Bộ Tổng tham mưu: “Bến động”…

Tôi phải kể đôi nét về những thành viên của tàu 645. Tàu có 22 cán bộ, chiến sĩ. Thuyền trưởng Lê Hà quê ở miền Nam, ra Bắc năm 1961 được cử đi học sĩ quan hải quân, năm 1963 trở lại chiến trường, làm Thuyền trưởng tàu không số. Chính trị viên, Trung úy Nguyễn Văn Hiệu, anh cả của đơn vị, lúc đó vừa tròn 40 tuổi. Anh Hiệu quê Quảng Nam, có vợ, hai con ở phường Máy Tơ, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. Anh dáng cao to, đẹp trai, tính tình hiền lành, vui vẻ, được mọi người rất mến. Cánh thủy thủ chúng tôi thì đều tuổi mới ngoài đôi mươi, được tuyển chọn kỹ từ các đơn vị hải quân, mỗi lần ra khơi là xác định “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

“Bến động”- mật báo về tình hình nguy cấp sắp gặp phải, cấp trên yêu cầu tàu quay mũi ngay, chạy ra vùng biển quốc tế. Lúc đó chúng tôi suy nghĩ, chỉ khoảng nửa đêm hoặc chậm lắm gần sáng là có thể vào bến, phải quay trở lại là điều không ai muốn. Chỉ huy tàu hội ý nhanh, vì sự an toàn, bí mật của bến nhận hàng mà phải nhổ neo quay ngược ra vịnh Thái Lan. Khoảng 19 giờ, đã thấy một chiến hạm địch đang đuổi theo. Chúng rọi đèn pha sáng rực, đánh tín hiệu hỏi từ đâu đến và đi đâu? Chúng tôi trả lời: “Từ Trung Quốc xuống, bị lạc”. Địch phát tín hiệu dừng tàu. Chúng tôi lập tức tăng tốc hướng ra biển Đông nhằm thoát khỏi tầm pháo của chúng. Tàu địch bám theo. Phát hiện phía ngoài khơi có thêm 3 tàu địch nữa, vậy là tàu 645 bé nhỏ đang bị kẹp giữa vòng vây. Địch phát loa gọi hàng và bắn một loạt đạn uy hiếp phía mũi tàu. Chúng tôi vẫn cố tăng tốc và trò mèo vờn chuột kéo dài đến rạng sáng ngày hôm sau. Khu vực biển chúng tôi đang bị truy đuổi gần về phía đuôi của đảo Phú Quốc được phù sa bồi đắp, lại đang lúc nước ròng có thể lội xuống được. Chi ủy cùng chỉ huy tàu hội ý chớp nhoáng, ra quyết định khắc nghiệt nhất: nổ tàu! Tất cả nhảy xuống biển, chỉ để một người ở lại điểm hỏa khối thuốc nổ và thoát ra sau. Người nhận trách nhiệm sau cùng đó không ai khác, là người anh cả của tàu chúng tôi. Trong giây phút định mệnh ấy, tôi chợt thấy trên gương mặt vuông vức của Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu toát ra vẻ bình tĩnh lạ thường. Anh bắt tay từng người với ánh mắt trìu mến thay cho lời từ biệt. Tàu chúng tôi lập tức nổ loạt súng liên thanh vào chiếc tàu chiến gần nhất. Một quả đạn pháo lớn của địch nã thẳng vào phía buồng lái làm 6 thủy thủ hy sinh tại chỗ và tàu mất lái. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu yêu cầu Thuyền trưởng Lê Hà và số anh em còn lại nhảy xuống biển. Anh phát tín hiệu để kìm chân địch và tranh thủ hủy hết tài liệu. Con tàu mất lái chạy vòng tròn. Mười sáu người chúng tôi nhảy xuống nước, cố thoát ra xa khu vực tàu 645 đang mắc kẹt giữa vòng vây, nhưng mấy anh em bị thương không thể dìu đi nhanh hơn được. Bỗng nghe tiếng Chính trị viên trên tàu hét to: “Khẩn trương lên! Hãy báo cáo với đoàn là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ!”. Chúng tôi hiểu, Chính trị viên đã cố ý dừng thêm ít phút thời điểm điểm hỏa, bởi nếu nổ ngay sẽ nguy hiểm đến tính mạng anh em đang bơi chưa xa tàu được là bao. Rồi giây phút bi tráng cũng phải đến. Sau lưng chúng tôi bỗng bùng lên cột lửa cùng tiếng nổ vang dội, một luồng bão kéo theo ngọn sóng cực mạnh hất chúng tôi về phía rừng đước. Sau thời điểm tàu 645 nổ tung và chìm không lâu, tất cả chúng tôi đều bị địch bắt, đưa về giam giữ, tra khảo tại trại tù binh Phú Quốc. Hiệp định Paris về Việt Nam ký cuối năm 1972, đến tháng 3/1973 chúng tôi được trao trả tù binh.

Sau ngày nước nhà thống nhất, Thuyền trưởng Lê Hà trở về quê hương ở thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ (Bà Rịa – Vũng Tàu), các anh em khác cũng đều về quê, tôi thì ở Hải Phòng, cách nhà người anh cả của đơn vị không xa. Năm 1976, Nhà nước đã truy tặng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Hàng năm, đến ngày 24/4, ngày tàu 645 chìm, cũng là ngày giỗ của anh, chúng tôi đều tụ tập đến nhà anh ở phường Máy Tơ để thắp nén nhang tưởng nhớ. Trong tâm khảm chúng tôi còn in rõ nét khoảnh khắc bi tráng ngày ấy trên biển Đông, lúc anh cố đợi chúng tôi ra xa vùng nguy hiểm và lúc anh điểm hỏa cùng con tàu hòa vào lòng biển khơi.

37 năm sau ngày Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu hy sinh, một điều kỳ diệu khác đã xảy ra. Được sự giúp đỡ tận tình của chỉ huy Quân chủng Hải quân, của chính quyền, nhân dân địa phương, của Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an, ngày 29/4/2009 nhân dân Hải Phòng đã trang trọng rước hài cốt của ông từ bãi cát phía chóp đuôi đảo Phú Quốc về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ thành phố.

NHÀ VĂN PHẠM QUANG ĐẨU (SỨC KHỎE & ĐỜI SỐNG)